Đề thi có đáp án Tiếng Việt 3 kết nối: Đề cuối kì 2 - mẫu 9

Ma trận đề thi, đề kiểm tra cuối kì 2 môn Tiếng Việt 3 kết nối tri thức: Đề cuối kì 2 - mẫu 9. Cấu trúc đề thi bao gồm: phần Tiếng Việt, phần Tập làm văn, hướng dẫn chấm điểm, bảng ma trận, bảng đặc tả. Đề thi, đề kiểm tra được giáo viên sử dụng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi kết thúc một học kì. Hy vọng tài liệu có thể giúp ích cho thầy cô trong quá trình dạy học.

Nội dung chi tiết

PHÒNG GD ĐT ……………….Chữ kí GT1: ...........................
TRƯỜNG TH……………….Chữ kí GT2: ...........................

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ 2

TIẾNG VIỆT 3 – KẾT NỐI TRI THỨC

NĂM HỌC: 2024 - 2025

Thời gian làm bài: 90 phút (Không kể thời gian phát đề)

Họ và tên: …………………………………… Lớp:………………..

Số báo danh: …………………………….……Phòng KT:…………..

Mã phách
Điểm bằng sốĐiểm bằng chữChữ ký của GK1Chữ ký của GK2Mã phách

A. PHẦN TIẾNG VIỆT (10,0 điểm)

1. Đọc thành tiếng (3,0 điểm)

Giáo viên kiểm tra đọc thành tiếng đối với từng HS.

Nội dung kiểm tra: Các bài đã học từ chủ điểm 5 đến chủ điểm 8, giáo viên ghi tên bài, số trang vào phiếu, gọi HS lên bốc thăm và đọc thành tiếng. Mỗi HS đọc một đoạn văn, thơ khoảng 100 tiếng/phút (trong bài bốc thăm được) sau đó trả lời một câu hỏi về nội dung của đoạn đọc do giáo viên nêu.

2. Đọc hiểu văn bản kết hợp Tiếng Việt (7,0 điểm)

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi (3,0 điểm)

Một ước mơ

Hồi nhỏ, tôi rất thích đi học và tất cả những gì thuộc về nó: lớp học, bảng đen, sách vở, những người bạn, tiếng giảng bài của thầy cô,… Và luôn ao ước sẽ có một ngày, tôi tự hào giương cao tấm bằng tốt nghiệp trong niềm vui sướng và ánh mắt mừng vui của mọi người.

Nhưng tôi là con một gia đình nghèo, đông anh em. Tôi phải quyết định nghỉ học và xin làm việc trong một tiệm bánh. Từ đó ước mơ của tôi cũng lụi tàn dần.

Lớn lên, như bao người phụ nữ khác, tôi lấy chồng, sinh con. Tôi quyết tâm không để các con mình thất học, phải sống khổ sở như tôi. Và hai vợ chồng tôi đã làm việc cật lực để nuôi dạy các con thành tài.

Duy chỉ có cô con gái út Lin –đa là có vấn đề. Lin-đa từ nhỏ đã ốm yếu, khó nuôi, nên ít có trường nào nhận dạy con bé lâu dài. Không đành lòng nhìn con đi theo vết xe đổ của mình, tôi bắt đầu hỏi thăm và tìm hiểu. Cuối cùng, tôi cũng kiếm được trường, đăng kí không chỉ cho Lin-đa mà còn cho cả tôi cùng học nữa. Tôi muốn ở bên cạnh con, giúp đỡ nó và sâu xa hơn là tiếp tục thực hiện giấc mơ của mình.

Thật là thú vị khi lại được đến trường. Nhưng cũng không dễ dàng chút nào khi ở tuổi 58, tôi phải vừa làm công việc nhà, vừa đánh vật với những con số. Hai mẹ con tôi luôn động viên, an ủi và giúp đỡ nhau trong học tập. Cứ thế cho đến ngày chúng tôi tốt nghiệp.

Thật không ngờ, đến cuối đời, tôi mới được sống cho mình, cho hạnh phúc và ước mơ của mình. Có lẽ hơi trễ một chút nhưng tôi nhận ra một điều: đừng bao giờ chôn vùi những ước mơ! Hãy vững tin rằng, một ngày mai ta sẽ biến chúng thành hiện thực. Không cần nhờ vào những điều kì diệu ở đâu xa, mà tất cả những gì ta đạt được hôm nay là do sự phấn đấu không ngừng, và quyết tâm không từ bỏ niềm mơ ước trong lòng mỗi chúng ta. Quả thật, sẽ không bao giờ là quá muộn để bạn bắt đầu một giấc mơ!

Đặng Thị Hòa

Câu 1 (0,5 điểm). Ước mơ thuở nhỏ của tác giả là gì?

A. Trở thành một người giàu có.

B. Được học hành và tốt nghiệp.

C. Mở một tiệm bánh lớn.

D. Lấy chồng và sinh con.

Câu 2 (0,5 điểm). Vì sao tác giả phải từ bỏ ước mơ của mình?

A. Vì gia đình quá nghèo và đông anh em.

B. Vì tác giả không đủ khả năng học tiếp.

C. Vì tác giả muốn giúp đỡ gia đình.

D. Vì tác giả không tìm được trường học phù hợp.

Câu 3 (0,5 điểm). Điều gì đã thúc đẩy tác giả quyết định đi học trở lại?

A. Mong muốn thực hiện ước mơ dang dở.

B. Muốn giúp đỡ cô con gái út.

C. Không muốn con mình phải chịu khổ như mình.

D. Mong muốn thực hiện ước mơ đang dở và muốn giúp đỡ cô con gái út vì không muốn con phải chịu khổ như mình.

Câu 4 (0,5 điểm). Tác giả đã gặp phải những khó khăn nào khi đi học trở lại?

A. Vừa phải làm việc nhà, vừa phải học.

B. Tuổi đã cao, khó tiếp thu kiến thức mới.

C. Phải đối mặt với nhiều áp lực từ gia đình.

D. Vừa phải làm việc nhà, vừa phải học; Tuổi đã cao, khó tiếp thu kiến thức mới.

Câu 5 (0,5 điểm). Thông điệp chính mà tác giả muốn gửi gắm qua câu chuyện là gì?

A. Không bao giờ từ bỏ ước mơ của mình.

B. Hãy luôn cố gắng vượt qua mọi khó khăn.

C. Tuổi tác không phải là rào cản để thực hiện ước mơ.

D. Không bao giờ từ bỏ ước mơ của mình; Hãy luôn cố gắng vượt qua mọi khó khăn; Tuổi tác không phải là rào cản để thực hiện ước mơ.

...........................................

Luyện từ và câu (4,0 điểm)

Câu 7 (2,0 điểm). Hãy chọn từ đúng trong ngoặc để điền vào chỗ trống:

a. Con …………….. (lợn/nợn) đang ăn cám.

b. Cô giáo đang ....................... (lói/nói) chuyện với các bạn.

c. Bạn Lan có mái tóc ............................. (lâu/nâu).

d. Cây ……………………. (lúa/núa) non xanh mướt.

Câu 8 (2,0 điểm). Hãy gạch chân dưới các câu có sử dụng dấu gạch ngang trong đoạn văn sau:

...........................................

B. PHẦN VIẾT - TẬP LÀM VĂN (10,0 điểm)

Câu 9 (2,0 điểm). Chính tả nghe – viết: GV cho HS viết một đoạn trong bài “Học nghề” (SGK TV3, Kết nối tri thức và cuộc sống – Trang 58) Từ đầu cho đến… cháu cầm cái chổi kia theo bác.

...........................................

Bài làm

............................................................................................................................

............................................................................................................................

..........................................................................................................................

..........................................................................................................................