Trình bày cảm nhận của bạn về đoạn thơ sau: Tiếng thơ ai động đất trời/ Nghe như non nước vọng lời ngàn thu/ Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du/ Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.
Nội dung chi tiết
Đề bài: Trình bày cảm nhận của bạn về đoạn thơ sau: Tiếng thơ ai động đất trời/ Nghe như non nước vọng lời ngàn thu/ Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du/ Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.
DÀN Ý:
I. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Tố Hữu và bài thơ "Kính gửi cụ Nguyễn Du".
- Trích dẫn đoạn thơ và nêu cảm nhận chung về đoạn thơ.
II. Thân bài
1. Sức mạnh lay động lòng người phi thường của thơ Nguyễn Du:
- Hình ảnh ẩn dụ "Tiếng thơ ai động đất trời" thể hiện sức mạnh to lớn, ảnh hưởng sâu sắc của thơ ca Nguyễn Du.
- Lí giải sức mạnh lay động của thơ Nguyễn Du:
+ Nội dung thơ phản ánh hiện thực xã hội sâu sắc, đồng cảm với nỗi khổ của con người.
+ Giá trị nhân đạo cao đẹp, đề cao tình yêu thương, lòng nhân ái.
+ Ngôn ngữ thơ trau chuốt, giàu hình ảnh, thể hiện tài năng nghệ thuật xuất chúng của Nguyễn Du.
2. Giá trị trường tồn vượt thời gian của thơ Nguyễn Du:
- Hình ảnh "non nước vọng lời ngàn thu" so sánh thơ Nguyễn Du với sự vĩnh hằng của non nước, thể hiện giá trị trường tồn của thơ ca cụ.
- Lí giải giá trị trường tồn của thơ Nguyễn Du:
+ Nội dung thơ mang tính nhân loại, phản ánh những giá trị vĩnh hằng của cuộc sống.
+ Giá trị nghệ thuật cao, có sức sống mãnh liệt, lay động lòng người qua nhiều thế hệ.
3. Vị trí và tầm vóc của Nguyễn Du trong lòng dân tộc:
- Câu thơ "Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du" khẳng định vị trí và tầm vóc của đại thi hào trong lòng dân tộc.
- Nguyễn Du được ví như "bậc thánh thi", "ông tổ của thi ca tiếng Việt".
- Tác phẩm của Nguyễn Du góp phần làm phong phú kho tàng văn học dân tộc, được dịch ra nhiều thứ tiếng, giới thiệu rộng rãi trên thế giới.
4. Tiếng thơ Nguyễn Du như lời ru ngọt ngào, ấm áp:
- Hình ảnh so sánh "Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày" thể hiện cảm xúc yêu mến, trân trọng của tác giả đối với thơ Nguyễn Du.
- Lí giải sự so sánh này:
+ Thơ Nguyễn Du mang đến cho người đọc cảm giác gần gũi, thân thương, như lời ru của mẹ ru con.
+ Thơ ca cụ có tác dụng xoa dịu tâm hồn, mang đến niềm an ủi, vỗ về cho con người.
III. Kết bài
- Khẳng định lại giá trị to lớn của thơ ca Nguyễn Du.
- Nêu cảm xúc và suy nghĩ của bản thân về đoạn thơ.
- Trách nhiệm của thế hệ sau trong việc gìn giữ và phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc.
Bài tham khảo 1:
Nguyễn Du, thi hào của văn học Việt Nam, đã để lại cho hậu thế một kiệt tác bất hủ - "Truyện Kiều". Tác phẩm này không chỉ là một thiên hùng ca về tình yêu và số phận con người mà còn là một di sản văn hóa vô giá. Tố Hữu, một nhà thơ lớn của thế kỷ XX, đã dành những dòng thơ trang trọng để ca ngợi Nguyễn Du trong bài thơ “Kính gửi cụ Nguyễn Du”. Trong đoạn trích "Tiếng thơ ai động đất trời / Nghe như non nước vọng lời ngàn thu / Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du / Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày", Tố Hữu đã thể hiện một cách cảm nhận sâu sắc và tôn kính đối với thi hào Nguyễn Du và tác phẩm "Truyện Kiều".
"Tiếng thơ ai động đất trời" - Câu thơ mở đầu đã khẳng định sức mạnh của tiếng thơ Nguyễn Du. Tố Hữu cảm nhận thơ Nguyễn Du (trong kiệt tác "Truyện Kiều") như một sự kiện vĩ đại, có khả năng tác động đến cả đất trời. Từ "động" được Tố Hữu sử dụng một cách điêu luyện, tạo ra một hiệu quả nghệ thuật mạnh mẽ. Chỉ một tiếng thơ của cá nhân "ai" đó, mà có thể làm "động" đến cả trời đất, một cách đánh giá vô cùng cao. Điều này cho thấy tiếng thơ Nguyễn Du không chỉ là sản phẩm của tài năng cá nhân, mà còn là kết tinh của cả nghìn năm văn hiến, sẽ vang dội đến nghìn năm sau. Thơ Nguyễn Du tồn tại mãi mãi, bất chấp quy luật nghiệt ngã của thời gian, vì đó là tiếng nói của tình đời, tình người, và tình thương của lòng mẹ, có ảnh hưởng lâu dài đến các thế hệ sau.
"Nghe như non nước vọng lời ngàn thu" - Câu thơ này cho thấy khi đọc "Truyện Kiều", người đọc như nghe thấy được tâm tư, tình cảm của cả dân tộc. "Vọng lời ngàn thu" là tiếng thở than của biết bao kiếp người lầm than, cơ cực, trắc trở trong cuộc đời. Tố Hữu đã sử dụng nghệ thuật so sánh và nhân hóa để khẳng định rằng "Truyện Kiều" đã hòa vào và sẽ trường tồn cùng sự trường tồn của núi sông đất nước.
"Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du" - Trong bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký”, Nguyễn Du bày tỏ mong muốn được hậu thế 300 năm sau cảm thông, chia sẻ. Tuy nhiên, Tố Hữu đã khẳng định "nghìn năm sau" – tức là không chỉ có 300 năm, mà là một sự khẳng định dứt khoát và xác đáng về sự trường tồn của Nguyễn Du. Tố Hữu đã sử dụng phép thế đồng nghĩa "nghìn năm" để thay thế cho "ngàn thu", tránh sự lặp lại từ ngữ nhưng lại làm tăng giá trị nghệ thuật.
"Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày" - "Tiếng thương" là tiếng nói của tình thương, của chủ nghĩa nhân đạo bao la, phê phán những thái độ phong kiến chà đạp con người, đề cao con người và cuộc sống. Tiếng thơ ấy tiêu biểu hơn cả chính là "tiếng mẹ ru hời", chăm sóc và vỗ về con thơ vào giấc ngủ yên bình. "Truyện Kiều" đã phát ra một tiếng thương, tiếng kêu về nỗi đau đến đứt ruột, khơi gợi được những nỗi niềm đồng cảm của những bà mẹ Việt Nam trong xã hội.
Bốn câu thơ trích trên là kết tinh nghệ thuật của bài thơ “Kính gửi cụ Nguyễn Du”. Tố Hữu đã dùng những dòng thơ đầy cảm xúc và tinh tế để ca ngợi thi hào Nguyễn Du và kiệt tác "Truyện Kiều". Qua đó, chúng ta thấy được sự trường tồn của Nguyễn Du và tác phẩm của ông trong lòng dân tộc, như một biểu tượng của tình thương, của lòng nhân ái và của văn hóa Việt Nam.
Bài tham khảo 2:
Tố Hữu, một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thế kỷ XX, đã để lại nhiều tác phẩm quý giá, trong đó bài thơ "Kính gửi cụ Nguyễn Du" nổi bật với lòng tôn kính và ngưỡng mộ sâu sắc đối với thi hào Nguyễn Du. Trong đoạn thơ "Tiếng thơ ai động đất trời / Nghe như non nước vọng lời ngàn thu / Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du / Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày," Tố Hữu đã khắc họa sự vĩ đại và ảnh hưởng trường tồn của Nguyễn Du cùng kiệt tác "Truyện Kiều".
Câu thơ "Tiếng thơ ai động đất trời" thể hiện sức mạnh to lớn và ảnh hưởng sâu sắc của thơ ca Nguyễn Du. Tố Hữu sử dụng hình ảnh ẩn dụ "động đất trời" để diễn tả sự lay động, cảm xúc mãnh liệt mà thơ Nguyễn Du mang lại. Điều này cho thấy tiếng thơ của Nguyễn Du không chỉ là tiếng nói của một cá nhân mà đã trở thành tiếng lòng của cả dân tộc.
Nội dung thơ của Nguyễn Du phản ánh hiện thực xã hội sâu sắc, đồng cảm với nỗi khổ của con người. Những bài thơ của ông thường chứa đựng giá trị nhân đạo cao đẹp, đề cao tình yêu thương và lòng nhân ái. Ngôn ngữ thơ trau chuốt, giàu hình ảnh, thể hiện tài năng nghệ thuật xuất chúng của Nguyễn Du, khiến người đọc dễ dàng cảm nhận và đồng cảm với những tâm tư, nỗi niềm mà ông truyền tải.
Hình ảnh "non nước vọng lời ngàn thu" so sánh thơ Nguyễn Du với sự vĩnh hằng của non nước, thể hiện giá trị trường tồn của thơ ca cụ. Thơ Nguyễn Du mang tính nhân loại, phản ánh những giá trị vĩnh hằng của cuộc sống, luôn tồn tại và lay động lòng người qua nhiều thế hệ. Giá trị nghệ thuật cao và sức sống mãnh liệt của thơ ông đã khiến tác phẩm trở nên bất hủ, vang vọng qua thời gian.
Câu thơ "Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du" khẳng định vị trí và tầm vóc của đại thi hào trong lòng dân tộc. Nguyễn Du được ví như "bậc thánh thi", "ông tổ của thi ca tiếng Việt". Tác phẩm của ông không chỉ làm phong phú kho tàng văn học dân tộc mà còn được dịch ra nhiều thứ tiếng và giới thiệu rộng rãi trên thế giới, chứng tỏ sức ảnh hưởng toàn cầu của ông.
Hình ảnh so sánh "Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày" thể hiện cảm xúc yêu mến, trân trọng của tác giả đối với thơ Nguyễn Du. Thơ Nguyễn Du mang đến cho người đọc cảm giác gần gũi, thân thương, như lời ru của mẹ. Thơ ca cụ có tác dụng xoa dịu tâm hồn, mang đến niềm an ủi và vỗ về cho con người trong những lúc khó khăn, đau khổ.
Đoạn thơ của Tố Hữu đã khẳng định giá trị to lớn của thơ ca Nguyễn Du, là tiếng nói của tình đời, tình người và tình thương của lòng mẹ. Cảm xúc và suy nghĩ của bản thân về đoạn thơ là sự kính trọng, ngưỡng mộ đối với thi hào Nguyễn Du và tác phẩm "Truyện Kiều". Thế hệ sau cần có trách nhiệm gìn giữ và phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc, để những giá trị nhân văn cao đẹp trong thơ ca Nguyễn Du mãi mãi trường tồn và lan tỏa.
Bài tham khảo 3:
Đoạn thơ "Tiếng thơ ai động đất trời" trích từ bài thơ "Kính gửi cụ Nguyễn Du" của nhà thơ Tố Hữu là lời ca ngợi sâu sắc về giá trị và sức sống trường tồn của thơ ca Nguyễn Du. Qua ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhạc điệu, Tố Hữu đã vẽ nên bức chân dung đầy ấn tượng về đại thi hào dân tộc.
Hình ảnh "Tiếng thơ ai động đất trời" sử dụng phép ẩn dụ độc đáo, thể hiện sức mạnh phi thường của thơ ca Nguyễn Du. Tiếng thơ ấy không chỉ vang vọng trong tâm hồn con người mà còn lay động cả đất trời, cho thấy sức ảnh hưởng to lớn và tầm vóc vĩ đại của thơ ca Nguyễn Du. Nguyễn Du không chỉ là nhà thơ của dân tộc mà còn là nhà thơ của nhân loại, với tiếng thơ vượt qua mọi biên giới và thời gian, thể hiện những giá trị nhân văn sâu sắc.
Câu thơ "Nghe như non nước vọng lời ngàn thu" sử dụng hình ảnh "non nước" - biểu tượng cho sự vĩnh hằng của thiên nhiên, qua đó khẳng định giá trị trường tồn của thơ ca Nguyễn Du. Thơ của ông như tiếng vọng từ thiên nhiên, vĩnh cửu và bất diệt. Tố Hữu qua đó muốn nhấn mạnh rằng, dù thời gian có trôi qua, thơ ca của Nguyễn Du vẫn luôn sống mãi trong lòng người, như một phần không thể thiếu của văn hóa dân tộc.
"Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du" thể hiện niềm tự hào và sự trân trọng vô bờ bến của Tố Hữu đối với đại thi hào dân tộc. Dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử, thơ ca Nguyễn Du vẫn luôn sống mãi trong lòng người, là nguồn động viên và niềm tự hào cho thế hệ sau. Nguyễn Du với "Truyện Kiều" đã tạo nên một dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử văn học Việt Nam, và câu thơ của Tố Hữu như một lời cam kết về sự trường tồn của giá trị này.
"Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày" là một so sánh đầy tinh tế và xúc động. Tố Hữu ví tiếng thơ Nguyễn Du như tiếng mẹ ru, thể hiện sự gần gũi, yêu thương và trân trọng đối với thơ ca của đại thi hào. Tiếng thơ ấy như lời ru ngọt ngào, ru hồn người vào giấc ngủ bình yên, mang đến cho ta niềm an ủi và vỗ về tâm hồn. Tố Hữu đã khéo léo liên kết cảm xúc của người đọc với những ký ức tuổi thơ, nơi tiếng mẹ ru trở thành biểu tượng của sự ấm áp, chở che và tình yêu vô bờ bến.
Đoạn thơ tuy ngắn gọn nhưng đã thể hiện một cách sâu sắc giá trị và sức sống trường tồn của thơ ca Nguyễn Du. Tố Hữu đã sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu, cùng với những so sánh độc đáo để ca ngợi tài năng và phẩm chất cao quý của đại thi hào dân tộc. Đoạn thơ là lời tri ân sâu sắc của Tố Hữu đối với Nguyễn Du, đồng thời cũng là lời khẳng định vị trí quan trọng của thơ ca Nguyễn Du trong nền văn học dân tộc. Qua đó, người đọc không chỉ cảm nhận được tài năng của Nguyễn Du mà còn thấy rõ lòng kính trọng và sự ngưỡng mộ của Tố Hữu đối với ông, làm nổi bật lên tầm vóc vĩ đại của một trong những nhà thơ lớn nhất của Việt Nam.
Bài tham khảo 4:
Đoạn thơ "Tiếng thơ ai động đất trời" trích từ bài thơ "Kính gửi cụ Nguyễn Du" của nhà thơ Tố Hữu là lời ca ngợi sâu sắc giá trị trường tồn của thơ ca Nguyễn Du qua các thế hệ. Với những hình ảnh độc đáo, giàu sức gợi, Tố Hữu đã vẽ nên bức chân dung đầy ấn tượng về đại thi hào dân tộc, đồng thời thể hiện niềm tự hào, trân trọng của mình đối với di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc.
Ngay từ câu thơ đầu tiên "Tiếng thơ ai động đất trời", Tố Hữu đã sử dụng hình ảnh ẩn dụ độc đáo để khẳng định sức mạnh lay động lòng người phi thường của thơ Nguyễn Du. "Tiếng thơ" vang vọng như "động đất trời", cho thấy ảnh hưởng to lớn, tác động mạnh mẽ của thơ ca cụ đối với tâm hồn con người. Tiếng thơ ấy như có sức mạnh phi thường, lay động cả đất trời, thức tỉnh những cảm xúc sâu thẳm trong mỗi người.
Tiếp theo, nhà thơ ví "Tiếng thơ ai" như "non nước vọng lời ngàn thu". Hình ảnh "non nước" tượng trưng cho sự vĩnh hằng, trường tồn, kết hợp với "vọng lời ngàn thu" thể hiện sức sống bất diệt, giá trị vượt thời gian của thơ ca Nguyễn Du. Dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử, thơ ca Nguyễn Du vẫn sống mãi, vẫn được hậu thế yêu mến, trân trọng. Những giá trị nhân văn sâu sắc trong thơ ca cụ như tình yêu thương con người, lòng yêu nước, tinh thần lạc quan… luôn có sức sống mãnh liệt, lay động trái tim mỗi người đọc.
Câu thơ "Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du" là lời khẳng định về vị trí và tầm vóc của đại thi hào trong lòng dân tộc. Sau ngàn năm, thơ ca Nguyễn Du vẫn sống mãi, vẫn được hậu thế yêu mến, trân trọng. Nguyễn Du được xem như là "bậc thánh thi", "ông tổ thơ Nôm", là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.
Cuối cùng, nhà thơ so sánh "Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày". Hình ảnh "tiếng mẹ ru" gợi cho ta cảm giác gần gũi, ấm áp, thân thương. Tiếng thơ Nguyễn Du như lời ru ngọt ngào, vỗ về tâm hồn, mang đến cho ta niềm an ủi, vỗ về, đồng cảm sâu sắc. Tiếng thơ ấy như đưa ta về với những ký ức tuổi thơ êm đềm, ru ta vào giấc ngủ bình yên, mang đến cho ta những giây phút thư giãn, thanh thản trong tâm hồn.
Đoạn thơ "Tiếng thơ ai động đất trời" là lời ca ngợi sâu sắc giá trị trường tồn của thơ ca Nguyễn Du, thể hiện sự trân trọng, kính ngưỡng của nhà thơ Tố Hữu đối với đại thi hào dân tộc. Đoạn thơ còn gợi lên suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ sau trong việc gìn giữ và phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc.
Bài tham khảo 5:
Cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của thi hào Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế biết bao yêu mến và tự hào. Kiệt tác Truyện Kiều đã chạm đến trái tim của nhân loại. Cho đến nay “Truyện Kiều” vẫn là hòn ngọc sáng nhất và là đỉnh cao chói lọi nhất của tiếng nói Việt Nam, của văn học dân tộc. Thiên tuyệt bút này của Nguyễn Du là sự kết tinh tinh hoa của cả quá trình mấy trăm năm hình thành và phát triển nền văn học cổ điển viết bằng ngôn ngữ dân tộc. Trong bài “Kính gửi cụ Nguyễn Du”, nhà thơ Tố Hữu đã bày tỏ tình cảm của mình về truyện Kiều và Nguyễn Du bằng những lời thơ xúc động:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”.
Bài thơ trừ bốn câu thơ đầu và cuối, tất cả có năm khổ thơ với ba cặp lục bát tương xứng. Bằng hình thức tập Kiều nhuần nhuyễn, sáng tạo, ngôn ngữ trong sáng, giản dị, giàu hình ảnh, những so sánh bất ngờ… ấy đã diễn tả thật thành công tấm lòng của một người con cúi mình trước đại thi hào vĩ đại của dân tộc Nguyễn Du, một thi hào kỳ tài ấy đã chắp bút lên “Truyện Kiều”, một công trình đồ sộ và có giá trị thật lớn lao, góp phần tăng giá trị đạo đức, nhận thức vào kho tàng văn học Việt Nam. Cảm khái và ngưỡng mộ trước tài năng ấy kết hợp với một tấm lòng khát vọng tìm về với quá khứ xưa, Tố Hữu đã viết:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Tố Hữu đã ca ngợi giá trị nhân bản của tiếng thơ Nguyễn Du, một tiếng thơ vang động đến hồn thiêng sông núi, đến tạo vật muôn loài. Bằng cách sử dụng lối so sánh, ẩn dụ tài tình, nhà thơ đã nâng cao tầm vóc, giá trị của thơ ca Nguyễn Du. Ông đã ví tiếng thơ ấy là “non nước” vọng về từ ngàn năm trước, của thời gian xa xưa, của quá khứ. Tiếng thơ ấy vọng về đây trong niềm tự hào, hân hoan, đón nhận của một tấm lòng hậu thế muốn đền đáp tấm lòng cha ông xưa. Nỗi niềm ấy, tình cảm ấy thật đáng ngưỡng vọng. Hai câu thơ không những khái quát được tầm vóc, giá trị to lớn của tài năng Nguyễn Du mà còn thể hiện sâu sắc tình cảm cao đẹp của Tố Hữu – thế hệ hôm nay ngưỡng vọng về quá khá của cha ông.
Lối thơ ấy, tiếng lòng hân hoan Tố Hữu lại tiếp tục rộng mở vươn tới những giá trị vĩnh hằng khác:
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
Nghìn năm là khoảng thời gian của hồi tưởng, của ngưỡng vọng, của khát vọng mãnh liệt, của tấc lòng tri kỷ biết ơn của thế hệ hôm nay. Đó còn là khoảng thời gian của thế hệ hôm nay trả lời cho nỗi đau lịch sử của cha ông trong quá khứ. Một lần nữa cảm hứng ngợi ca chắp bút cho Tố Hữu cất tiếng lòng tự hào trong khúc hát tràn đầy hân hoan, hứng khởi, trong sự ngưỡng vọng trước một thiên tài. Tiếng thơ của Nguyễn Du được ví như “tiếng mẹ”, mà “tiếng mẹ” thì gần gũi, thiết tha quá. Đó là lời ru nhẹ nhàng ân tình, chan chứa tình yêu thương và trong ấy gửi gắm bao mơ ước thật cao đẹp. Và vì thế tiếng thơ của Nguyễn Du là tiếng ru của mẹ ân tình, ngọt ngào thổi vào lòng bao thế hệ có sức mạnh thật lớn lao. Tình cảm ấy, khúc hát ru ân tình ấy là lời nhắc nhở, thủ thỉ cho con- thế hệ hôm nay vững bước trưởng thành.
Nghìn năm là khoảng thời gian của hồi tưởng, của ngưỡng vọng, của khát vọng mãnh liệt, của tấc lòng tri kỷ biết ơn của thế hệ hôm nay. Đó còn là khoảng thời gian của thế hệ hôm nay trả lời cho nỗi đau lịch sử của cha ông trong quá khứ. Một lần nữa cảm hứng ngợi ca chắp bút cho Tố Hữu cất tiếng lòng tự hào trong khúc hát tràn đầy hân hoan, hứng khởi, trong sự ngưỡng vọng trước một thiên tài. Tiếng thơ của Nguyễn Du được ví như “tiếng mẹ”, mà “tiếng mẹ” thì gần gũi, thiết tha quá. Đó là lời ru nhẹ nhàng ân tình, chan chứa tình yêu thương và trong ấy gửi gắm bao mơ ước thật cao đẹp. Và vì thế tiếng thơ của Nguyễn Du là tiếng ru của mẹ ân tình, ngọt ngào thổi vào lòng bao thế hệ có sức mạnh thật lớn lao. Tình cảm ấy, khúc hát ru ân tình ấy là lời nhắc nhở, thủ thỉ cho con- thế hệ hôm nay vững bước trưởng thành.
Bốn câu thơ, ba cặp lục bát song hành ấy là tình cảm, tiếng lòng của chúng con thế hệ hôm nay đáp lời quá khứ. Đó cũng là lời hứa chân thành nhất của thế hệ hôm nay cùng ngân vang theo nhịp đập của quá khứ.
Bằng lối tập Kiều nhuần nhuyễn, sử dụng hình ảnh có tính gợi hình, giọng điệu ân tình, ngọt ngào, đậm chất dân tộc, khổ thơ đã thể hiện trọn vẹn phong cách thơ Tố Hữu: khuynh hướng thơ trữ tình – chính trị, một giọng điệu tâm tình ngọt ngào và đậm đà tính dân tộc. Khổ thơ khép lại nhưng lại mở ra một chân trời mới, tương lai mới trong hành trình chống Mỹ hôm nay:
Sông Lam nước chảy bên đồi
Bỗng nghe trống giục ba hồi gọi quân
“Bài thơ là âm điệu của một cõi lòng bị sóng khuấy động, đang rung lên đồng điệu đồng nhịp với sóng biển. Rạo rực đến xôn xao, khát khao đến khắc khoải, có một hình tượng sóng được vẽ lên bằng một âm điệu dập dồn, chìm nổi, miên man như hơi thở chạy suốt cả bài…”.
Bài tham khảo 6:
Tháng 10 và tháng 11 - 1965, nhà thơ Tố Hữu có chuyến đi vào các tỉnh miền Trung. Thời điểm này, cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ đã lan rộng và vùng khu IV (cũ) từ Thanh Hóa đến Quảng Bình trở thành tuyến lửa ác liệt. Trong chuyến đi này, Tố Hữu đã làm được một chùm thơ giàu tính thời sự, in đậm những hình ảnh và khí thế của cuộc chiến đấu. Cũng trong chuyến đi, nhà thơ qua quê hương Nguyễn Du vào dịp Đảng - Nhà nước ta cũng như Hội đồng Hòa bình Thế giới long trọng tổ chức lễ kỉ niệm 200 ngày sinh của Đại thi hào Nguyễn Du (1776 - 1965). Quá xúc động, kính trọng, thương nhớ cụ Nguyễn Tiên Điền, hồn thơ Tố Hữu liền cất cánh. Thế là bài thơ Kính cụ Nguyễn Du được sáng tác. Bài thơ được đưa vào tập Ra trận (1972). Đây là bốn câu thơ sâu sắc của bài thơ:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.
Bốn câu thơ trên thuộc đoạn sáu của bài thơ dài 34 câu (gồm hai câu mở đầu, hai câu kết thúc, đoạn giữa chia làm năm đoạn nhỏ, mỗi đoạn đều đặn sáu câu). Đoạn 1 gồm hai câu mở đầu ngắn gọn, đưa thẳng độc giả vào không khí thời đại Nguyễn Du. Đoạn 2 là sự thương cảm với cảnh ngộ, số phận của Thúy Kiều và Nguyễn Du. Đoạn 3 - 4 là sự cảm nhận sâu sắc và thấm thía nhất của Tố Hữu và lòng thương người, tình đời của đại thi hào. Đoạn 5, từ Kiều, Tố Hữu liên hệ đến xã hội, đến thế giới ngày nay. Đoạn 6 là cái nhìn tổng kết sự nghiệp văn học và tâm hồn lớn của Nguyễn Du đối với thời đại ngày nay. Qua những sự đánh giá cao tột bậc lời thơ của đại thi hào nhà thơ, cách mạng bày tỏ thái độ rất mực cảm thông hết sức trân trọng của mình đối với thiên tài thi ca dân tộc ta. Hai câu kết là tiếng trống trận ra quân chống xâm lược ngày nay như dội về từ thời đại Nguyễn Du.
Tiếng thơ ai động đất trời
Tố Hữu cảm nhận thấy thơ Nguyễn Du (ở kiệt tác Truyện Kiều) trong một tương quan đặc biệt. Thơ Nguyễn Du không chỉ tác động đến cả đất trời mênh mông. Từ “động” được Tố Hữu dùng rất điêu luyện, làm tăng hiệu quả nghệ thuật biểu cảm của lời thơ. Từ “động” có các nghĩa (1) chuyển bay, nhúc nhích; (2) dính tới, sờ tới; (3) vừa mới, thoạt mới. Ở đây, “động” được hiểu theo nghĩa (1): chính đất trời dường như cũng xao xuyến, nao lòng. Chỉ một tiếng thơ của cá nhân “ai” đó, vậy mà có thể làm “động” đến cả trời đất. Cách đánh giá như thế là rất cao.
Thật vậy, Truyện Kiều có sức mạnh lay động cả “đất trời” vì tác phẩm đã đề cập tới những vấn đề sâu sắc nhất của thân phận con người. Một chủ đề khá lớn trong Truyện Kiều là nỗi oan khuất của con người trong lồng xã hội phong kiến bất công, phi nghĩa. Một nỗi oan khuất đã xô đẩy nàng Kiều tài sắc, nết na, đức hạnh vẹn toàn vào kiếp hoa trôi bèo dạt. Nàng phải trải qua 15 năm lưu lạc với biết bao đau khổ, dày vò, xót xa, tủi nhục. Nhà thơ Hoàng Trung Thông nhận xét rằng trong Truyện Kiều chữ “oan” xuất hiện với một tầng số khá lớn: “Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây”, “Oan này có một kêu trời nhưng xa”, “Tiếng oan những muốn vạch trời kêu lên”, “Một nhà để chị riêng oan một mình”,...
Sự cảm nhận và đánh giá tiếng thơ của Nguyễn Du còn cao hơn nữa. Tiếng thơ ấy không còn là cá nhân thi sĩ mà là lời “non nước”. “Nước non” đã “vọng lời” lên qua tiếng thơ của Nguyễn Du. “Non nước” - phạm trù không gian, một không gian vô cùng “Ngàn - phạm trù thời gian, một thời gian vô tận. Vậy nên bằng nghệ thuật so sánh, tu từ, nhân hóa tu từ, đối ngữ tương hỗ, Tố Hữu khẳng định rằng Truyện Kiều đã hòa mình vào và sẽ trường tồn trong sự trường tồn của núi sông này
Trong bài thơ Độc Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du muốn hậu thế 300 năm lẻ nữa, người đời có sự cảm thông chia sẻ với mình:
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Nhưng Tố Hữu đã khẳng định “nghìn năm sau” - tức là không phải chỉ có 300 năm lẻ, đây là một sự khẳng định thật dứt khoát và xác đáng. Ngoài ra ở câu thơ này, chúng ta còn thấy Tố Hữu có một dụng công nghệ thuật tuy không lớn lắm về phương diện chắt lọc từ. Nhà thơ dùng phép thế đồng nghĩa “nghìn năm” (ở câu 3) đề thay thế cho “ngàn thu” (ở câu 2), tránh sự lập lại về từ nhưng lại làm nảy nở nghệ thuật tinh lọc từ. “Ngàn thu” là muôn đời, mãi mãi về sau - đó là tiếng ngân vang, tiếng dội, tiếng vọng từ quá khứ đến hiện tại. Còn “nghìn năm” cũng là thời gian dài - đó là sự luân chuyển, nối liền xưa với nay, nối liền hiện tại với tương lai, gắn tư tưởng của cha ông với tinh thần của thời đại mới.
"Tiếng thương” là tiếng nói của tình thương, tiếng chở của tình thương, tiếng nói của chủ nghĩa nhân đạo bao la, tiếng phê phán những thế lực phong kiến chà đạp con người, tiếng nói đề cao con người, đề cao cuộc sống trần tục. Tiếng thơ ấy tiêu biểu chính là “tiếng mẹ hời”, chăm sóc con thơ, vỗ về con thơ đi vào giấc ngủ yên bình. Chính Truyện Kiều đã phát ra một tiếng thương, một tiếng kêu mới về một nỗi đau đứt ruột, đã khơi gợi những nỗi niềm đồng cảm của những bà mẹ Việt Nam trong xã hội xưa.
Tóm lại, bốn câu thơ trích trên là kết tinh nghệ thuật của bài thơ. Về nội dung, cả bốn câu có sự tăng tiến về cấp độ. Mở đầu là “tiếng thơ ai” làm “động” cả đất trời rồi trở thành “lời ngàn thu”, “lời non nước”. Chưa đủ nó thành “ tiếng hương” và cuối cùng là “tiếng mẹ ru”. Điều đó chứng tỏ, theo Tố Hữu, thơ Nguyễn Du, nhất là Truyện Kiều đã đập vào nguồn mạch văn hóa, đời sống tình cảm của cả cộng đồng dân tộc. Chính vì vậy có thể nói Tố Hữu - nhà thơ cách mạng - đã có thái độ “rất mực cảm thông, hết sức trân trọng” đối với Đại thi hào dân tộc. Về nghệ thuật, thiên tài Nguyễn Du viết Truyện Kiều bằng thể thơ lục bát đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Kế tục và phát huy truyền thống của cha ông. Tố Hữu cũng dùng thể thơ ấy để viết bài thơ Kính gửi cụ Nguyễn Du, có yếu tố “tập Kiều” và đã nói rằng chính ngôn ngữ Nguyễn Du. Vì thế, âm điệu thơ trở nên trang trọng, cổ điển, khí thơ đượm một vẻ Truyện Kiều. Có thể nói, Tố Hữu đã huy động được Nguyễn Du và Truyện Kiều vào cuộc kháng chiến chống Mĩ giải phóng quê hương.