Soạn ngắn văn 8 kết nối: Bài 4 Lễ xướng danh khoa đinh dậu

Bài soạn ngắn Ngữ văn 8 kết nối tri thức: Bài 4 Lễ xướng danh khoa đinh dậu. Bài soạn đầy đủ, câu trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm. Thông qua bài soạn, học sinh dễ dàng hoàn thành bài tập được giao trong thời gian ngắn

Nội dung chi tiết

VĂN BẢN. LỄ XƯỚNG DANH KHOA ĐINH DẬU

TRƯỚC KHI ĐỌC

CH1. Nhà nước phong kiến xưa tổ chức các kì thi cho sĩ tử tham gia nhằm mục đích gì?

Soạn ngắn:

Nhà nước phong kiến xưa tổ chức các kì thi cho sĩ tử tham gia nhằm tìm ra người tài giỏi để phục vụ cho triều đình và nhân dân.

CH2. Sau cuộc thi (thể thao, nghệ thuật, giáo dục,...) thường sẽ có một buổi lễ xướng danh và trao giải. Mục đích của lễ xướng danh là gì?

Soạn ngắn:

Mục đích của lễ xướng danh là khen ngợi những người thi đỗ được đề tên trên bảng vàng.

ĐỌC VĂN BẢN

CH1: Các chi tiết miêu tả con người và khung cảnh lễ xướng danh.

Soạn ngắn:

- Con người: Luộm thuộm sĩ tử vai đeo lọ

- Khung cảnh: Trường Nam thi lẫn với trường Hà; quan trường miệng thét loa.

CH2: Sự xuất hiện của các nhân vật người nước ngoài trong kì thi.

Soạn ngắn:

Các nhân vật nước ngoài: quan sứ và mụ đầm.

SAU KHI ĐỌC

CH1. Bố cục bài thơ gồm mấy phần? Đó là những phần nào?

Soạn ngắn:

Bố cục bài thơ gồm 4 phần. Đó là đề - thực - luận - kết.

CH2. Hai câu đề cho biết điều gì về chế độ thi cử ở nước ta cuối thế kỉ XIX?

Soạn ngắn:

Hai câu đề đã phơi bày cả sự đổ nát của kì thi quốc gia và phê phán nhà nước vô trách nhiệm.

CH3. Biện pháp tu từ nào đã được sử dụng trong cách diễn đạt “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ” và “Ậm ọe quan trường miệng thét loa"? Nêu rõ tác dụng của biện pháp tu từ đó trong việc tái hiện hình ảnh các sĩ tử và quan viên người Việt.

Soạn ngắn:

Từ "lôi thôi" nhấn mạnh là hình ảnh của sĩ tử bị chìm trong sự nhếch nhác. Ậm oẹ nghĩa là ra bộ nạt nộ, hăm doạ => nhấn mạnh được không khí nhếch nhác trong ngày thi.

CH4. Phân tích tác dụng của phép đối được tác giả sử dụng trong hai câu thực.

Soạn ngắn:

Câu thơ “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ” là một cảnh hài hước, chua chát. Đảo ngữ hai chữ “lôi thôi” lên đầu câu thơ gây ấn tượng nhếch nhác đáng buồn “vai đeo lọ”. Ậm oẹ nghĩa là ra bộ nạt nộ, hăm doạ. Cấu trúc câu thơ đảo ngữ đưa hai tiếng tượng thanh “ậm oẹ” lên đầu câu thơ để làm nổi bật hình ảnh các quan trường “miệng thét loa”.

CH5. Tiếng cười trào phúng được thể hiện như thế nào qua việc đặc tả, nhấn mạnh hai hình ảnh mang tính chất “ngoại lai” là quan sử và mụ đâm?

Soạn ngắn:

Hình ảnh “Lọng cắm rợp trời” gợi tả cảnh đón tiếp dành cho “quan sứ”, lũ ăn cướp đất nước ta, một nghi lễ cực kì long trọng.

CH6. Nhắc đến "nhân tài đất Bắc”. tác giả muốn ám chỉ những đối tượng nào? Em cảm nhận được thái độ gì của tác giả qua lời nhắn nhủ ấy?

Soạn ngắn:

Nhân tài đất Bắc là những ông nghè, ông cống, những con người có lòng tự tôn dân tộc,...

Thái độ của tác giả qua lời nhắn nhủ về cảnh nước nhà bị mất nước.

CH7. Nhân vật nào trong bài thơ để lại ấn tượng cho em nhiều nhất? Vì sao?

Soạn ngắn:

Nhân vật để lại cho em nhiều ấn tượng nhất đó là sĩ tử. Sĩ tử là những học trò, người có học vấn, tầng lớp có học thức; là học sinh của Quốc Tử Giám; rộng hơn là học sinh tại các trường do triều đình quản lý. Còn sĩ tử trong thơ Tế Xương thì sĩ tử mà bút mực đâu không thấy, chỉ nổi bật lủng lẳng một cái lọ.Hàng ngàn “sĩ tử vai đeo lọ” thì lôi thôi thật, là bức tranh biếm họa để đời về anh học trò đi thi trong thời buổi thực dân nhô’ nhăng.

CH8. Cảm xúc chủ đạo của tác giả trong bài thơ này là gì?

Soạn ngắn:

Cảm xúc chủ đạo là phê phán hiện thực đau buồn, nhốn nháo, nhố nhăng.

VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC

Đề bài: Viết đoạn văn ( khoảng 7 - 9 câu) phân tích một chi tiết có tính chất trào phúng mà em ấn tượng nhất trong bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu.

Soạn ngắn:

Tú Xương là một nhà thơ được sinh ra và lớn lên trong giai đoạn có thể nói là bi thương nhất của đất nước – nước ta bị Pháp tấn công và thống trị. Bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu là tác phẩm có tính trào phúng mà em ấn tượng nhất. "Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, Ậm ọe quan trường miệng thét loa.” Từ “lôi thôi” được đặt lên đầu câu, nhấn mạnh vẻ lếch thếch, không gọn gàng của các vị “sĩ tử”. Bình thường, những người đi thi đều là những người đọc sách, những người luôn gọn gàng, chỉn chu. Vậy mà nay, thí sinh đi thi với vẻ xốc xếch, với lọ chai lỉnh kỉnh, không còn cái vẻ tao nhã của người đọc sách. Trước mắt người đọc hiện lên hình ảnh của một trường thi nhốn nháo, quan trông thi thì luôn miệng hống hách, quát tháo, sĩ tử đi thi thì lôi thôi, lếch thếch, xiêu vẹo lều chõng lọ giấy đi thi.