Tóm tắt văn 9 kết nối: tác phẩm Kim – Kiều gặp gỡ

Tóm tắt tác phẩm Kim – Kiều gặp gỡ văn 9 Kết nối tri thức được trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, bám sát nội dung và cốt truyện. Giúp người học nắm nắm nhanh diễn biến chính, nhân vật tiêu biểuý nghĩa của tác phẩm. Đây là tài liệu hữu ích, hỗ trợ hiệu quả cho quá trình ôn tập, giảng dạy và khám phá giá trị văn học.

Nội dung chi tiết

VĂN BẢN: KIM – KIỀU GẶP GỠ

(TRÍCH TRUYỆN KIỀU, NGUYỄN DU)

PHẦN 1. TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

1. Tác giả

- Nguyễn Du ( 3/1/1766 - 16/9/1820 ) tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn lạp hộ, Nam Hải điếu đồ, là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt Nguyễn sơ ở Việt Nam.

- Quê quán: tại làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

- Nguyễn Du đi chu du muôn dặm tại Trung Quốc (khoảng 5.000 km trong 3 năm), từ Liễu Châu qua Quảng Tây đi đường Trường Sa đến Hán Dương, qua sông Giang Hán đi Trường An và sau đó xuống Hàng Châu, "Giang Nam, Giang Bắc túi tiền không".

- Cuối năm 1790, Nguyễn Du trở về Thăng Long. Ông có mối thân tình quen biết với nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

- Năm 1797, Nguyễn Đề thu xếp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn cưới cô em út Đoàn Nguyễn Thị Huệ cho Nguyễn Du.

- Ông bị bệnh dịch tả chết ngày mồng 10 tháng 8 năm Canh Thìn (tức 16 tháng 9 năm 1820) hưởng thọ 54 tuổi.

- Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành,... nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc.

- Đặc biệt hơn cả là tài làm thơ bằng chữ Nôm của ông, mà đỉnh cao là Truyện Kiều Kiều, đã cho thấy thể thơ lục bát có khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn trong thể loại truyện thơ.

- Ông để lại ba tập thơ chữ Hán là: Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục.

+ Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn.

+ Nam trung tạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài thơ làm từ năm 1805 đến cuối năm 1812, tức là từ khi được thăng hàm Đông các học sĩ vào làm quan ở Kinh (gần 4 năm) cho đến hết thời kỳ làm Cai bạ dinh Quảng Bình (3 năm, 5 tháng). Ông viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh.

+ Bắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc.

- Về văn thơ Nôm, Nguyễn Du sử dụng tài tình hai thể thơ dân tộc lục bát và song thất lục bát. Ông đã làm mới ngôn ngữ văn học Tiếng Việt.

- Những tác phẩm bằng chữ Nôm của Nguyễn Du gồm có: Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều Kiều), Văn chiêu hồn, Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ,…

2. Tác phẩm

- Thể loại: Thơ lục bát.

- Xuất xứ: Trích trong Truyện Kiều, Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải, NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991, tr27-30. Đoạn trích Kim – Kiều gặp gỡ nằm ở phần 1 của cốt truyện (gặp gỡ) từ câu 141 đến 184: Nhân tiết Thanh minh, Thúy Kiều cùng hai em du xuân, tình cờ gặp ngôi mộ của Đạm Tiên, một ca nữ nổi danh tài sắc mà bạc mệnh. Thúy Kiều đã bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc cho thân phận Đạm Tiên. Cũng ở đây, nàng đã gặp Kim Trọng, giữa hai người lập tức nảy sinh tình cảm yêu thương, quyến luyến. Thúy Kiều trở về nhà với tâm trạng “ngổn ngang trăm mối”.

- Bố cục: Gồm 3 phần:

+ Phần 1: Từ đầu đến… “vốn nhà trâm anh”: Chỉ sự xuất hiện của nhân vật Kim Trọng.

+ Phần 2: Tiếp đến … “nỗi xa bời bời”: Đoạn trích này đã miêu tả hình ảnh, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật Kim Trọng và Thúy Kiều khi gặp nhau.

+ Phần 3: Còn lại: Lời người kể chuyện với lời nhân vật để thể hiện thế giới nội tâm nhân vật Thúy Kiều.

- Phương thức biểu đạt: biểu cảm.

PHẦN 2. GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT

1. Giá trị nội dung

- Đoạn trích đã được Nguyễn Du bày tỏ giá trị nhân đạo lớn lao và giá trị nội dung sâu sắc. Tác giả đã bày tỏ nỗi xót thương cũng như đồng cảm với những số phận bi kịch. Nhà thơ còn đề cao nỗi khát vọng, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Nhà thơ cũng lên án tố cáo thực trạng của một xã hội vì đồng tiền mà cái ác lên ngôi.

2. Giá trị nghệ thuật

- Nguyễn Du đã thành công sử dụng nghệ thuật xây dựng tâm lí nhân vật, thể thơ cũng như người kể chuyện đã khắc họa nên được cảnh Kim trọng gặp gỡ Thúy Kiều thật đặc sắc. Và thông qua những hình ảnh ẩn ý bức tranh thiên nhiên như thời gian, không gian, sự vật tác giả đã thể hiện ngụ ý tâm trạng của nhân vật thật ấn tượng. Thế giới nội tâm nhân vật được thể hiện bằng ngôn ngữ đối thoại và độc thoại bằng phương pháp tả cảnh ngụ tình đã làm nên giá trị của đoạn trích.