Tóm tắt văn 12 kết nối: tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh
Tóm tắt tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh văn 12 Kết nối tri thức được trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, bám sát nội dung và cốt truyện. Giúp người học nắm nắm nhanh diễn biến chính, nhân vật tiêu biểu và ý nghĩa của tác phẩm. Đây là tài liệu hữu ích, hỗ trợ hiệu quả cho quá trình ôn tập, giảng dạy và khám phá giá trị văn học.
Nội dung chi tiết
VĂN BẢN: NỖI BUỒN CHIẾN TRANH (TRÍCH – BẢO NINH)
PHẦN 1. TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1. Tác giả
- Bảo Ninh (1952) tên thật là Hoàng Ấu Phương, ngoài ra ông có nhiều bút danh khác như Nhật Giang, Mã Pí Lèng…
- Quê quán: xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Ông là nhà văn quân đội, từng trực tiếp tham gia chiến đấu trên chiến trường miền Nam trước năm 1975.
+ Bảo Ninh vào bộ đội năm 1969.
+ Chiến đấu tại mặt trận B3 Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10.
+ Năm 1975, ông giải ngũ.
- Từ 1976 - 1981 học đại học ở Hà Nội, sau đó làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam.
- Từ 1984 - 1986 học khóa 2 trường viết văn Nguyễn Du, làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ.
- Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1997.
- Bảo Ninh ra mắt công chúng bằng truyện ngắn đầu tay Trại “Bảy chú lùn” in trên tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1987.
- Ít lâu sau, cuốn tiểu thuyết đầu tay Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh xuất hiện nhưng do thị hiếu người đọc lúc bấy giờ nhà xuất bản đã đặt cho nó cái tên Thân phận của tình yêu.
- Sau Nỗi buồn chiến tranh, tác giả hầu như chỉ sáng tác truyện ngắn.
- Ngoài cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận của tình yêu) và các tập truyện ngắn, Bảo Ninh còn viết một số bài trên báo Văn nghệ trẻ bàn về sự đổi mới của văn học.
- Bảo Ninh là một nhà văn từng xông pha trận mạc nên ông rất am hiểu về chiến tranh, ông chuyên viết về đề tài về chiến tranh và muốn “văn của mình phải mang vẻ đẹp quân đội”. Ông từng chia sẻ mình “biết nhiều câu chuyện đương thời ở Việt Nam, nhưng không viết” , nhà văn chỉ tập trung viết về quá khứ chiến trường và cái quá khứ xa hơn của nó ở Hà Nội mà ông vẫn gọi là “thành phố quê hương thứ hai của tôi” .
- Luôn đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn. Ông cho rằng mỗi nhà văn phải đi tìm cho mình một cái gì đó thật mới, thật riêng không lẫn với người khác. Bởi thế mà khi chọn viết về đề tài chiến tranh, Bảo Ninh cũng đã có nhiều trăn trở để tìm cho mình một góc cạnh khác trên mảnh đất ấy.
- Quan niệm đã viết văn là phải có vốn văn hóa, hiểu biết sâu, phải có khả năng tìm tòi khám phá để nhận ra viên ngọc quý lấp lánh bên trong. Văn Bảo Ninh đẹp, một thứ văn có phần trau chuốt và giàu sức biểu cảm, một thứ văn có nghiêng về “vị nghệ thuật”.
2. Tác phẩm
- Thể loại: Tiểu thuyết.
- Xuất xứ: Tác phẩm được trích trong Nỗi buồn chiến tranh, NXB Văn học, Hà Nội, 1991, tr89 – 92, 277 - 283).
- Bố cục: Gồm 2 phần
+ Phần 1 (từ đầu đến trí tưởng tượng): Trạng thái luôn sống với kí ức chiến tranh của nhân vật Kiên - dòng kí ức đã thôi thúc anh cầm bút để ghi chép lại tất cả trải nghiệm của một đoạn đời đặc biệt.
+ Phần 2 (phần còn lại): Những ấn tượng, cảm xúc và suy tư của mình khi đối diện với “núi bản thảo” bộn bề mà Kiên bỏ lại.
- Phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm.
- Tóm tắt: Đoạn trích được tác giả Bảo Ninh dùng thủ pháp đồng hiện và bút pháp “dòng ý thức” để nói về đời sống nội tâm của nhân vật Kiên – một anh bộ đội bước ra từ cuộc chiến tranh với chấn thương tâm hồn nặng nề trước những hi sinh, mất mát, đổ vỡ do chiến tranh gây nên và trước khả năng mai một của trí nhớ cộng đồng về một thời kì lịch sử đặc biệt đã qua. Kiên luôn tự cật vấn đến đau đớn về tâm thế tồn tại trong cuộc đời, về thân phận của tình yêu, về chiến tranh như một môi trường thử thách khốc liệt đối với nhân tính.
- Đề tài: Mất mát và những kí ức đau buồn của chiến tranh.
- Nội dung chính: Đoạn trích xoay quanh tâm lí của nhân vật Kiên, những kí ức về một thời oanh tạc chiến trường tràn về trong kí ức ông, kèm theo nỗi cô đơn của thời bình đã giúp ông viết cuốn tiểu thuyết của mình. Nhân vật “tôi” là người cùng cơ quan của Kiên, sau khi Kiên bỏ đi, “tôi” nhận số bản thảo của Kiên để lại và dần thấu hiểu Kiên.
- Ngôi kể: Sử dụng ngôi kể thứ ba xen lẫn ngôi kể thứ nhất, nhân vật trong đoạn trích gần như không có "hành động bên ngoài" mà chỉ có "hành động bên trong”.
PHẦN 2. GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
1. Giá trị nội dung
- Qua đoạn trích, ta thấy rằng ý nghĩa của sự nhớ lại là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi con người. Những kỉ niệm về những người mình yêu quý, những trải nghiệm đáng nhớ và những thành tựu đã đạt được đều là những điểm sáng tạo nên màu sắc và ý nghĩa của cuộc sống. Nhớ lại quá khứ cũng là một nguồn động viên và sức mạnh khi ta đối mặt với những khó khăn.
2. Giá trị nghệ thuật
- Sử dụng ngôi kể thứ ba xen lẫn ngôi kể thứ nhất, nhân vật trong đoạn trích gần như không có "hành động bên ngoài" mà chỉ có "hành động bên trong”.
Tài liệu cùng môn học
- Trắc nghiệm văn 12 kết nối tri thức
- Giáo án word văn 12 kết nối tri thức
- Giáo án ppt văn 12 kết nối tri thức
- Giáo án word dạy thêm văn 12 kết nối tri thức
- Giáo án ppt dạy thêm văn 12 kết nối tri thức
- Giáo án chuyên đề văn 12 kết nối tri thức
- Giáo án ppt chuyên đề văn 12 kết nối tri thức
- Soạn văn 12 kết nối tri thức
- Phiếu bài tập văn 12 kết nối tri thức
- Giải chuyên đề văn 12 kết nối tri thức
- Lý thuyết văn 12 kết nối tri thức
- Soạn ngắn văn 12 kết nối tri thức
- Câu hỏi xoay quanh Ngữ văn 12 kết nối tri thức
- Văn mẫu 12 kết nối tri thức
- Đề thi ngữ văn 12 kết nối tri thức
- Ppt trò chơi AI Ngữ văn 12 Kết nối tri thức
- Tóm tắt tác phẩm văn 12 kết nối tri thức
- Video AI mở đầu Ngữ văn 12 kết nối tri thức
Tài liệu khác
- Trắc nghiệm văn 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm địa lí 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm hóa học 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm KTPL 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm lịch sử 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm sinh học 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm toán 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm quốc phòng 12 kết nối tri thức
- => Xem nhiều môn hơn