Phân tích diễn biến tình cảm, cảm xúc của chủ thể trữ tình trong “Hương Sơn phong cảnh”

Tổng hợp những bài văn, đoạn văn hay nhất trong chương trình học của Ngữ văn 10 chân trời sáng tạo. Phần tổng hợp dưới đây là ngữ liệu tham khảo giúp học sinh biết cách tìm ý, diễn đạt câu văn, chắt lọc từ ngữ và hình thành ý tưởng trong quá trình làm bài. Mời các em cùng tham khảo: Phân tích diễn biến tình cảm, cảm xúc của chủ thể trữ tình trong “Hương Sơn phong cảnh”

Nội dung chi tiết

Đề bài: Phân tích diễn biến tình cảm, cảm xúc của chủ thể trữ tình trong “Hương Sơn phong cảnh”

Bài tham khảo 1:

Bài thơ "Hương Sơn phong cảnh" của Chu Mạnh Trinh là một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, thể hiện sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên. Mạch cảm xúc của bài thơ được thể hiện ở mở đầu là cảm xúc ngỡ ngàng, thích thú trước vẻ đẹp của Hương Sơn: "Bầu trời cảnh bụt". Cảnh sắc thiên nhiên hiện ra như một bức tranh với trời mây sông nước trùng điệp: “non non”, “nước nước”, “mây mây”. Tiếp theo, tác giả thể hiện cảm xúc háo hức, muốn khám phá Hương Sơn, liệt kê đầy đủ và chi tiết những cảnh đẹp nơi này. Hình ảnh thiên nhiên được miêu tả bằng những từ ngữ gợi cảm: “khéo họa hình”, “thang mây”, nhìn đá “long lanh như gấm dệt”. Trước những cảnh sắc tuyệt vời ấy, tác giả say mê, ngây ngất mà thốt lên rằng: "Càng trông phong cảnh càng yêu" để kết thúc bài thơ. Từ cảm xúc ngỡ ngàng, thích thú đến háo hức, khám phá, say mê, ngây ngất, thanh thản, bình yên, lưu luyến và cuối cùng là hy vọng được trở lại. Qua đó, bài thơ đã thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết, sâu sắc của nhà thơ Chu Mạnh Trinh.

Bài tham khảo 2:

Khúc dạo đầu bài thơ là niềm vui sướng, hân hoan khi được đến với Hương Sơn. Chu Mạnh Trinh bắt đầu bài thơ bằng những từ ngữ như "Bầu trời cảnh Bụt" để mô tả không khí của Hương Sơn. Từ "Bụt" đã làm nổi bật không gian này như một thiên đàng linh thiêng. Mô tả về núi non, với nhịp 2/2 và các từ ngữ như "non non", "nước nước", "mây mây", tạo nên một bức tranh hùng vĩ và độc đáo về cảnh đẹp của Hương Sơn. Giọng điệu của tác giả thể hiện sự thích thú và ngạc nhiên trước vẻ đẹp tuyệt vời của địa điểm này. Sang đến mười câu thơ tiếp theo, tác giả đã sử dụng cảm nhận tinh tế của mình để giao hoa với cảnh vật thiên nhiên, đi vào miêu tả cụ thể và chi tiết. Bài thơ kết thúc bằng việc thể hiện tình cảm của Chu Mạnh Trinh đối với đất nước ("Chừng giang sơn còn đợi ai đây,/Hay tạo hóa khéo ra tay xếp đặt"). Câu thơ cuối cùng với đại từ "ai" tạo nên sự bí ẩn, thách thức đối với đất nước và tạo ra một không khí lãng mạn và huyền bí.

Bài tham khảo 3:

Ở bốn câu thơ đầu, tác giả bộc lộ cảm xúc của mình khi lần đầu đặt chân đến đệ nhất động, chủ thể trữ tình có tâm trạng phấn khích, hồ hởi. 14 câu thơ tiếp theo, chủ thể trữ tình miêu tả, cảm nhận một cách tinh tế, chắt lọc, nhạy cảm trước cảnh sắc tuyệt thế nơi đây. Chủ thể trữ tình so sánh với những hình ảnh mĩ lệ, đẹp đẽ để thêm phần nhấn mạnh cảnh sắc tại Hương Sơn, quả là đệ nhất động. 5 câu cuối là sự bày tỏ tình yêu thiên nhiên cũng chính là bày tỏ tình yêu quê hương đất nước. Qua vẻ đẹp trữ tình, mộng mơ, tuyệt thế ấy khiến chủ thể trữ tình phải thốt lên “Càng trông phong cảnh càng yêu”.

Bài tham khảo 4:

Bốn câu thơ đầu là sự ngạc nhiên, thích thú, thỏa mãn của chủ thể trữ tình khi đã được đặt chân đến Hương Sơn phong cảnh, nơi mà người đã ao ước bấy lâu nay, nơi được mệnh danh là “Đệ nhất động” (Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay/”Đệ nhất động” hỏi nơi đây có phải?”). Chủ thể trữ tình cảm nhận cảnh vật một cách thực tế nhất, liệt kê và miêu tả chi tiết những cảnh đẹp nơi Hương Sơn, so sánh với những hình ảnh mĩ lệ (long lanh như gấm dệt; lối uốn thang mây;...). Đó chính là sự quan sát tỉ mỉ từng nét đẹp, từng ngóc ngách của chủ thể trữ tình. Ngoài việc muốn nói đến vẻ đẹp của Hương Sơn, chủ thể trữ tình cũng muốn bày tỏ tình yêu nước thầm kín của mình. Chủ thể trữ tình bộc lộ trực tiếp tình yêu của mình tước vẻ đẹp của Hương Sơn, sự khóng khoáng, lãng tử qua câu thơ cuối “Càng trông phong cảnh càng yêu”.

Bài tham khảo 5:

“Bầu trời, cảnh bụt,

Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay

Kìa non non, nước nước, mây mây

Đệ nhất động hỏi là đây có phải?''

Bốn câu thơ đầu diễn tả cái cảm xúc, cái thú lần đầu đến với Hương Sơn của tác giả. Cụm từ '' ao ước bấy lâu nay'' kết hợp câu hỏi tu từ ''Đệ nhất động hỏi là đây có phải?'' diễn tả một sự bồn chồn háo hức của những người luôn ao ước được đến Hương Sơn

“Vẳng bên tai một tiếng chày kình,

Khách tang hải giật mình trong giấc mộng”.

Không chỉ ngắm nhìn cảnh đẹp Hương Sơn, du khách hay tác giả còn được nghe tiếng chày kinh khiến cho tâm hồn cảm thấy thanh thản, trút bỏ yêu phiền. Cảm xúc lúc này như trầm lại, tĩnh hơnKhi đến ngắm nhìn hang động, cảm xúc đã nâng lên thành một sự cảm thán trước vẻ đẹp kì diệu của hang

“Nhác trông lên ai khéo vẽ hình

Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt”

Những liên tưởng so sánh về nhũ đá trong các hang động biểu lộ niềm tự hào của nhà thơ về đất nước và con người Việt Nam: yêu đời, yêu tạo vật, biết đem bàn tay khéo léo tô điểm cảnh trí non sông. Cảm xúc lúc này như hòa mình vào thiên nhiên cũng không gian của Phật giáo. Chúng ta như thấy hình ảnh đoàn khách vừa đi ngắm cảnh, vừa niệm những câu niệm của nhà Phật. Cảm xúc như đắm chìm, lưu luyến không rời nơi đây để rồi thốt lên ''Càng trông phong cảnh càng yêu".

Bài tham khảo 6:

Như vậy, mạch cảm xúc trong bài thơ "Hương Sơn phong cảnh" được thể hiện một cách rõ ràng, mạch lạc, từ niềm vui sướng, hân hoan khi được đến với Hương Sơn, đến sự say mê, ngây ngất trước vẻ đẹp của thiên nhiên, niềm tự hào về cảnh đẹp quê hương. Bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, mộc mạc nhưng lại vô cùng tinh tế, giàu sức gợi cảm, tạo nên một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ và thơ mộng, đồng thời thể hiện tâm trạng hân hoan, say mê và niềm tự hào của tác giả trước cảnh sắc thiên nhiên nơi đây.

Bài tham khảo 7:

Đây là một bài thơ vịnh cảnh và thể hiện tâm sự. Không chỉ vẽ cảnh đẹp, mà còn vẽ lòng người, đó là tâm sự yêu nước, tự hào với cảnh đẹp quê hương đất nước của nhà thơ. Bốn câu thơ đầu giới thiệu bao quát toàn cảnh Hương Sơn và trực tiếp nêu cái thú ban đầu khi đến với Hương Sơn của tác giả:

“Bầu trời, cảnh bụt,

Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay

Kìa non non, nước nước, mây mây

Đệ nhất động hỏi là đây có phải?”

Cảnh sắc Hương Sơn bằng một nhận xét tinh tế: vừa là danh lam thắng cảnh do tạo hoá ban tặng vừa là công trình tôn giáo. . Đó là niềm “ao ước” không chỉ trong giây lát mà đã trở thành niềm khát khao “bấy lâu nay” của bao du khách. Câu thơ thứ ba có giá trị tạo hình đặc sắc nhờ cách kết hợp giữa hình thức điệp từ liệt kê và thủ pháp luyến láy “non non, nước nước, mây mây”… Vừa vẽ ra cảnh tượng hùng vĩ của non nước, mây trời Hương Sơn như một bức tranh thủy mặc cổ điển vừa tạo được âm điệu ngân nga, bâng khuâng man mác như cảm xúc của du khách trước vẻ huyền ảo chốn bồng lai tiên cảnh. Ba khổ tiếp theo miêu tả cảnh đẹp cụ thể của Hương Sơn. Khổ thơ tiếp theo trong bài hát nói gọi là khổ giữa, nhà thơ nói về suối, rừng và tiếng chuông chùa. Ba chi tiết nghệ thuật này đều tô đậm nét đặc trưng của Hương Sơn. Rừng là rừng Mai với trái mơ đặc sản của chùa Hương.

Hai khổ thơ 3 và 4 tiếp theo là hai khổ đội của bài hát nói. Hương Sơn có biết bao cảnh đẹp nên thi sĩ phải sử dụng khổ dôi để diễn tả cảm xúc và miêu tả cảnh vật. Du khách như đi dần vào thế giới Hương Sơn, nơi bầu trời cảnh Bụt. Chu Mạnh Trinh dùng biện pháp tu từ liệt kê và điệp từ để tả, để vẽ, để tạo nên nhạc điệu trầm bổng của vần thơ. Câu thơ cuối như một tiếng thổ lộ, lại vừa giống một tiếng reo cảm thán. Qua đó không chỉ nâng cao vẻ đẹp hoàn mỹ của phong cảnh Hương Sơn, mà còn bộc lộ được tình yêu, niềm tự hào dân tộc của “con rồng cháu tiên” với non sông gấm vóc.

Bài tham khảo 8:

Đối với Chu Mạnh Trinh thì Hương Sơn chính là chốn thoát ra khỏi vẻ đẹp trần tục ở nhân gian. Chính vì vậy, ngay từ khi mở đầu, chỉ với 4 từ mà tác giả đã lột tả được đa số cái thần thái nơi đây: "Bầu trời cảnh bụt". Cảnh núi non trùng điệp cảnh mây trời lồng lộng cảnh sông nước hữu tình, càng làm cho không gian của Hương Sơn mở rộng ra. Sau khi miêu tả cụ thể và chi tiết, tác giả không giấu lòng mình mà thốt lên: “Càng trông phong cảnh càng đáng yêu. Vẻ đẹp thiên nhiên càng được khắc họa với những nét vẽ vừa tráng lệ lại vừa yểu điệu uyển chuyển. Qua đó, cũng thể hiện tình yêu thiên nhiên và cũng như sự tinh tế, con mắt tinh tường của tác giả trước vẻ đẹp mà thiên nhiên ban tặng.