Phân tích, so sánh tác dụng của từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp,... trong việc gợi tả cảnh sắc thiên nhiên chiều thu ở khổ 1 và khổ 4.

Tổng hợp những bài văn, đoạn văn hay nhất trong chương trình học của Ngữ văn 10 chân trời sáng tạo. Phần tổng hợp dưới đây là ngữ liệu tham khảo giúp học sinh biết cách tìm ý, diễn đạt câu văn, chắt lọc từ ngữ và hình thành ý tưởng trong quá trình làm bài. Mời các em cùng tham khảo: Phân tích, so sánh tác dụng của từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp,... trong việc gợi tả cảnh sắc thiên nhiên chiều thu ở khổ 1 và khổ 4.

Nội dung chi tiết

Đề bài: Phân tích, so sánh tác dụng của từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp,... trong việc gợi tả cảnh sắc thiên nhiên chiều thu ở khổ 1 và khổ 4.

Bài tham khảo 1:

Ở khổ thơ đầu, tác giả sử dụng một loạt hình ảnh gợi tả khung cảnh rộn rã, vui tươi, tràn đầy sức sống. Đó là hình ảnh “chiều mộng” nên thơ, là “cây me”, “cặp chim” ríu rít. Sức gợi tả của những câu thơ còn được thể hiện một cách hiệu quả qua từ láy “ríu rít” gợi âm thanh và các động từ mạnh như “đổ”, “động” khiến cho cảnh thu về ngập tràn sức sống. Tác giả gieo vần “uyên” ở cuối các câu thơ 1, 2, và 4 tạo nhịp điệu êm ái cho khổ thơ. Sang đến khổ 4, tác giả sử dụng nhiều vần trắc thể hiên nhịp điệu hối hả, gấp gáp của thời gian và tạo vật. Tác giả tiếp tục sử dụng những từ láy “gấp gấp”, “phân vân” cùng với một loạt hình ảnh thơ để gợi lên không gian rộng lớn hơn, mang cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến.

Bài tham khảo 2:

Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của buổi chiều thu được miêu tả bằng một loath những hình ảnh đặc sắc. “Nhánh duyên” như là nét đẹp tinh tế của cành cây, nhánh lá, “cặp chim chuyền” không chỉ mô tả cảnh đẹp, mà còn thể hiện thế giới tinh thần phong phú, gắn bó và thân mật. Động từ 'đổ' kết hợp với tính từ 'xanh ngọc' và hình ảnh muôn lá tạo nên bức tranh với không gian xanh thắm. Thu tràn ngập, làm sống động mọi nơi với tiếng đàn vang vọng. Tác giả gieo vần “uyên” êm dịu, bức tranh thiên nhiên ở khổ thơ đầu giao hòa màu sắc, hình khối, và âm thanh. Sang khổ thơ 4, không còn vui tươi trong trẻo, khung cảnh giờ đây nhuốm màu u buồn, lạc lõng. “Mây biếc về đâu bay gấp gấp” mô tả sự vội vã, thúc đẩy tạo nên bức tranh lạc trôi của đàn cô trên đồng ruộng rộng lớn. Câu thơ 'Chim nghe trời rộng giang thêm cánh' tạo sự tương phản giữa con chim bé nhỏ và bầu trời rộng lớn. Vì trời rộng nên chim cố gắng dang cánh bay đi nhanh chóng. Hình ảnh “Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần” càng rõ ràng thêm sự lạnh lẽo của chiều thu. Khung cảnh trở nên lạc lõng, không còn sự giao thoa và liên kết mật thiết như ở khổ 1, thể hiện ám ảnh về thời gian của tác giả Xuân Diệu, mạch thơ chuyển từ hạnh phúc sang lo sợ, cô đơn.

Bài tham khảo 3:

Thi sĩ Xuân Diệu sử dụng những từ ngữ chỉ mối quan hệ giữa các cảnh vật như hòa trên, ríu rít, đổ... qua.; từ tượng hình (đổ) và từ tượng thanh (ríu rít) à mối quan hệ thắm thiết, hòa quyện. Môt loạt hình ảnh khác nhau tạo nên sự đa dạng cho cảnh sắc thiên nhiên. Đặc biệt là hình ảnh cây me – một hình ảnh thân thuộc của đường phố cổ Hà Nội vào thu. Vần “uyên” (duyên, chuyền, huyền) gợi lên sự nhẹ nhàng, tĩnh lặng trong một buổi chiều thu. Hình ảnh hòa quyện với âm thanh của “tiếng huyền” càng tô đậm nét những cảnh vật xung quanh trong một buổi “chiều mộng”. Sang khổ 4, tác giả sử dụng từ láy (gấp gấp, phân vân) tạo nên sự xa cách, sự thay đổi tâm trạng cảnh vật. Vần “ân” cùng nhịp thơ như nhanh hơn, kết hợp với các hình ảnh thơ gắn liền với khung cảnh đồng quê, cảnh vật dường như có sự xa cách hơn so với khổ thơ 1. Cảnh thu dường như từ đó cũng buồn hơn, cô đơn hơn khi cảnh vật được đặt trong sự to lớn, mênh mông của bầu trời.

Bài tham khảo 4:

Khổ 1.

"Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên,

Cây me ríu rít cặp chim chuyền

Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,

Thu đến - nơi nơi động tiếng huyền."

Cách gieo vần ở vần ''uyên'' : duyên, chuyền, huyền. Đây là vần bằng. Cách gieo vần tạo co khổ thơ nhịp điệu nhẹ nhàng, êm ái. Các từ láy được sử dụng như '' ríu rít'',''nơi nơi'' diễn tả một không bừng sáng, vui vẻ muôn nơi. Không gian ''chiều mộng'' nên thơ trữ tình. Hình ảnh ríu rít cạp chim chuyên”, “trời xanh ngọc”, miêu tả một khung cảnh vui vẻ, rộn rã với “tiếng huyền”. Màu sắc gợi lên cảm giác trong xanh cùng với động từ "đổ" tạo cảm giác dứt khoát, lan tràn. Cụm từ "thu đến" như một tiếng reo vui mừng, phấn khích cho mơ ước bấy lâu giờ đã thành hiện thực.

Khổ 4.

"Mây biếc về đâu bay gấp gấp,

Con cò trên ruộng cánh phân vân.

Chim nghe trời rộng giang thêm cánh,

Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần."

Khổ thơ nhiều vần trắc , thể hiện sự hối hả, gấp gáp hơn so với khổ 1. Khổ bốn mang đến cho độc giả cảnh thu trên không gian rộng lớn. Hoạt động của thiên nhiên cũng dần dồn dập, nhanh chóng hơn. Từ láy "gấp gấp" tạo cảm giác hối hả, thúc giục. ''Chim ngang trời rộng'', chiều thu tàn , bầu trời như mở rộng hơn. Càng chìm dần vào chiều thu, sương càng rơi xuống nhiều. "Hoa lạnh" vì có thể do "đẫm sương" hoặc do cơn gió nào đó. Chiều mùa thu bắt đầu lạnh làm cho người đọc cũng mang chút gì xao xuyến, bâng khuâng.

Bài tham khảo 5:

Khổ 1: Cảnh thu vào một buổi chiều mộng đầy trữ tình.

Hàng loạt từ ngữ chỉ mối quan hệ “hòa”, “cặp”, “đổ…qua” cho thấy sự gắn bó giữa các sự vật khi thu đến. Hơn nữa, cặp từ tượng thanh “ríu rít” làm tăng sự thân mật, gần gũi đến bất ngờ. Hình ảnh quen thuộc mà chúng ta dễ dàng bắt gặp trên con đường phố cổ Hà Nội vào mùa thu, đấy chính là hình ảnh cây me. Xuân Diệu đưa chúng ta về với cảm giác ấm cúng, hoài niệm, yên bình, mang vẻ đặc trưng khó lòng phôi phai. 03/04 câu trong một khổ sử dụng vần “uyên” (duyên, chuyền, huyền) gợi lên sự đằm thắm, dịu nhẹ mà thơ mộng.

*Khổ 4: Cảnh vật đặt trong sự rộng lớn của không gian, không còn tươi tỉnh như khổ 1, hiện lên trong khổ 4 là sự buồn hiu, chạnh lòng.

Hình ảnh rất đỗi quen thuộc của bao người con đất Việt, ấy chính là khung cảnh cánh đồng cò lúa bay. Đó là không gian rộng lớn, thoáng đãng. Từ láy “gấp gấp” chỉ sự nhanh lẹ, chuyển động nhanh, có gì đấy gấp gáp còn từ láy “phân vân” cho bạn đọc thấy được sự lưng chừng, có gì đấy còn vương vấn, nửa muốn đi nửa muốn ở lại. 02/04 câu trong một khổ sử dụng vần “ân (vân, dần) kết hợp cùng nhịp thơ có sự chuyển biến nhanh, không còn chậm rãi như trước nữa, gợi lên sự vội vã đến nghẹt thở.

Bài tham khảo 6:

Thi sĩ Xuân Diệu sử dụng những từ ngữ chỉ mối quan hệ giữa các cảnh vật như hòa trên, ríu rít, đổ... qua.; từ tượng hình (đổ) và từ tượng thanh (ríu rít) và mối quan hệ thắm thiết, hòa quyện. Tác giả sử dụng nhiều hình ảnh khác nhau tạo nên sự đa dạng cho cảnh sắc thiên nhiên. Vần “uyên” (duyên, chuyền, huyền) gợi lên sự nhẹ nhàng, tĩnh lặng trong một buổi chiều thu. Hình ảnh hòa quyện với âm thanh của “tiếng huyền” càng tô đậm nét những cảnh vật xung quanh trong một buổi “chiều mộng”. Ở khổ 4, tác giả sử dụng từ láy (gấp gấp, phân vân) tạo nên sự xa cách, sự thay đổi tâm trạng cảnh vật. Cảnh thu dường như từ đó cũng buồn hơn, cô đơn hơn khi cảnh vật được đặt trong sự to lớn, mênh mông của bầu trời.

Bài tham khảo 7:

Không gian là buổi “chiều mộng” êm ái, lãng mạn cùng với “thơ trên nhánh duyên”. Không gian là cả bầu trời với một màu xanh ngọc, một màu trong xanh. Một không gian bao la, rộng lớn, huyền ảo. Tác giả cấu tứ trong không gian từ cao xuống thấp Với “con đường nho nhỏ gió siêu siêu”. Phù to cuối lại mang đến cho độc giả cảnh thu trên không gian rộng lớn với mây biếc, trời rộng. Bài thơ còn được cấu tứ với hàng loạt từ láy “ríu rít”, “nho nhỏ”, “siêu siêu”, “gấp gấp”….Cùng với các động từ “đổ”, “nghe”,…. Tất cả đã tạo nên phong cách nhà thơ Xuân Diệu. Khung cảnh mùa thu hiện lên vào một buổi chiều mộng với “đôi chim hót ríu rít, chuyền trên những cành me”. Động từ “ríu rít” cho thấy vẻ phấn khởi, vui mừng khi được trò chuyện với nhau.

Bài tham khảo 8:

Sự kết hợp giữa đường nét "nhánh duyên", âm thanh "ríu rít", màu sắc "xanh ngọc", hình ảnh "cặp chim chuyền" đã cho thấy đôi mắt tinh tế cùng nét bút tài tình của Xuân Diệu. Bằng tất cả các giác quan, "ông hoàng thơ tình" vẽ nên bức tranh mùa thu tươi mát, dịu êm. Từng chi tiết, từng sự vật hoạt động tách rời nhưng lại có sự hài hòa, gắn kết với nhau. Tất cả cùng tạo nên một buổi chiều mộng ảo, đồng thời báo hiệu khoảnh khắc thu tới "nơi nơi động tiếng huyền.". Âm thanh mùa thu như tiếng đàn tiếng ca, vang vọng khắp nơi, làm lòng người thêm chộn rộn, bâng khuâng hơn bao giờ hết. Sang khổ 4 là một khung cảnh hoàn toàn khác. Phía cao xa, từng đám mây màu biếc đã bắt đầu "gấp gấp" bay đi. Dưới ruộng đồng, mấy con cò cũng chuyển sang trạng thái "phân vân", không biết nên đi hay ở. Trên khoảng trời rộng lớn, đàn chim nghe lời nhắc nhở mà giang rộng đôi cánh tìm về nơi trú. Chiều thu buông xuống, cảm giác lạnh lẽo như vấn vương đâu đây "hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần". Sự hối hả, giục giã của cảnh vật như lan tỏa tới lòng người.