Bài tập củng cố Hoá học 12 kết nối: bài 2 Xà phòng và chất giặt rửa
Bài tập củng cố môn Hóa học 12 kết nối tri thức: Bài 2 Xà phòng và chất giặt rửa. Phần bài tập gồm 4 mức độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng và Vận dụng cao bám sát với chương trình sách giáo khoa. Thông qua bài tập này, học sinh có thể ôn luyện kiến thức đã học từ cơ bản đến nâng cao.
Nội dung chi tiết
BÀI 2: XÀ PHÒNG VÀ CHẤT GIẶT RỬA
(15 CÂU)
1. NHẬN BIẾT (4 CÂU)
Câu 1: Trong các chất sau, chất nào là chất giặt rửa tổng hợp? Xác định đầu ưu nước và đuôi kị nước của các chất đó.
a) CH3[CH2]14COONa; b) CH3[CH2]10CH2OSO3Na.
Trả lời:
Chất a là xà phòng, có đầu ưa nước là –COONa, đuôi kị nước là CH3[CH2]14-.
Chất b là chất giặt rửa tổng hợp có đầu ưu nước là –OSO3Na và đuôi kị nước là CH3[CH2]10CH2-.
Câu 2: Viết phương trình phản ứng xà phòng hoá chất béo tripalmitin (tạo thành từ glycerol và palmitic acid).
Trả lời:
Phương trình hoá học của phản ứng:
(C15H31COO)3C3H5 + 3NaOH
3C15H31COONa + C3H5(OH)3
Câu 3: Cho các chất: palmitic acid, tristearin, sodium hydroxide, chlohidric acid, sodium chloride. Những hoá chất nào được sử dụng trong quá trình điều chế xà phòng bằng phản ứng xà phòng hoá?
Trả lời:
Có 3 hoá chất, đó là: tristearin, sodium hydroxide và sodium chloride.
Câu 4: Khi cho vài giọt dầu ăn vào dung dịch xà phòng, lắc đều thì có hiện tượng gì xảy ra?
Trả lời:
Khi cho vài giọt dầu ăn vào dung dịch xà phòng, lắc đều thì có hiện tượng dầu ăn tan vào dung dịch xà phòng.
2. THÔNG HIỂU (6 CÂU)
Câu 1: Vì sao không nên dùng xà phòng khi giặt rửa với nước cứng?
Trả lời:
Vì trong nước cứng có ion của muối Ca2+, Mg2+, HCO3-. Phản ứng giữa nước cứng và chất giặt rửa xảy ra xuất hiện kết tủa làm giảm tác dụng giặt rửa của xà phòng.
Câu 2: Vì sao bồ kết có khả năng giặt rửa?
Trả lời:
Vì trong bồ kết có những chất có cấu tạo kiểu đầu phân cực gắn với đuôi dài không phân cực làm cho nó có khả năng giặt rửa.
Câu 3: Có nên dùng xô, chậu bằng nhôm để đựng quần áo ngâm xà phòng không? Vì sao?
Trả lời:
Không nên dùng xô, chậu bằng nhôm để đựng quần áo ngâm xà phòng vì xô chậu (Al2O3) bị nhanh hỏng do trong xà phòng có kiềm. Phương trình hoá học:
Al2O3 + NaOH → NaAlO2 + H2O
Al + NaOH + H2O → NaAlO2 +
H2
Câu 4: Em hãy nêu sự giống và khác nhau về cấu tạo giữa xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp.
Trả lời:
- Điểm giống nhau: chúng đều gồm 2 phần là phần phân cực (đầu ưu nước) có thể hoà tan được trong nước và phần không phân cực (đuôi kị nước) có gốc hydrocarbon mạch dài không tan trong nước.
- Điểm khác nhau:
+ Phần phân cực của xà phòng là nhóm carboxylate.
+ Phần phân cực của chất giặt rửa tổng hợp là nhóm sulfate, sulfonate.
Câu 5: “Chất giặt rửa tổng hợp không phải xà phòng nhưng thường được gọi là xà phòng”. Em hãy giải thích phát biểu trên.
Trả lời:
- Chất giặt rửa tổng hợp không phải là xà phòng vì chúng không phải là muối sodium hoặc potassium của các acid béo.
- Tuy nhiên, chất giặt rửa tổng hợp cũng có cấu tạo gồm một đầu ưa nước gắn với một đuôi kị nước như xà phòng. Tương tự như xà phòng, chất giặt rửa tổng hợp cũng được dùng trong tắm gội, giặt giũ… Chính vì vậy, chất giặt rửa tổng hợp không phải xà phòng nhưng lại thường được gọi là xà phòng.
Câu 6: Tại sao xà phòng và chất giặt rửa có thể loại bỏ các vết bẩn trên quần áo, dầu mỡ ở chén bát?
Trả lời:
Khi xà phòng, chất giặt rửa tan vào nước sẽ tạo dung dịch có sức căng bề mặt nhỏ làm cho vật cần giặt rửa dễ thấm ướt. Đuôi kị nước trong xà phòng và chất giặt rửa thâm nhập vào vết bẩn, phân chia vết bẩn thành những hạt rất nhỏ có đầu ưa nước quay ra ngoài, các hạt này phân tán vào nước và bị rửa trôi. Kết quả là các vết bẩn trên quần áo, dầu mỡ ở chén bát bị loại bỏ.
3. VẬN DỤNG (3 CÂU)
Câu 1: Đường ống thoát nước của bồn rửa chén sau khi sửa dụng một thời gian có thể bị tắc do chất béo dạng rắn (như glyceryl tristearate (tristearin) có trong mỡ động vật) đọng ở truòng đường ống. Để thông tắc, có thể cho một ít NaOH dạng rắn vào đường ống thoát nước.
a) Giải thích hiện tượng và viết phương trình hoá học của phản ứng xảy ra trong quá trình thông tắc.
b) Nếu dùng 12 gam NaOH rắn thì có thể xà phòng hoá tối đa được bao nhiêu gam tristearin?
Trả lời:
a) Vì NaOH hoà tan vào nước và toả nhiệt làm cho phản ứng xà phòng hoá xảy ra nhanh hơn. Xà phòng tạo thành tan được trong nước làm cho đường ống không bị tắc.
b) Ta có: Mtristearin = 890 gam/mol
nNaOH =
= 0,3 mol.
ntristearin =
. nNaOH = 0,1 mol => mtristearin = 0,1.890 = 89 gam.
Câu 2: Chỉ số xà phòng hoá là số miligam KOH dùng để xà phòng hoá hết triglycerid và trung hoà hết lượng acid tự do trong 1 gam chất béo. Một chất béo chứa 3,55% stearic acid và 89% tristearin về khối lượng, còn lại là các chất không tham gia phản ứng với KOH. Tính chỉ số xà phòng hoá của chất béo trên.
Trả lời:
Trong 1 gan chất béo có: nstearic acid = 1,15.10-4 mol; ntristearin = 0,001 mol
Phương trình hoá học: C15H35COOH + KOH → C17H35COOK + H2O
(C17H35COO)3C3H5 + 3KOH
3C17H35COOK + C3H5(OH)3
nKOH phản ứng = 1,25.10-4 + 3.0,001 = 0,003125 mol
mKOH = 0,003125.56 = 0,175 gam = 175 mg.
Chỉ số xà phòng hoá của chất béo trên là 175.
Câu 3: Tính khối lượng muối dùng để sản xuất xà phòng thu được khi cho 100 kg một loại mỡ chứa 50% tristearin, 30% trioleion và 20% tripalmitin tác dụng với sodium hydroxide vừa đủ (giả thiết hiệu suất phản ứng đạt 100%).
Trả lời:
Phương trình tổng quát: (RCOO)3C3H5 + 3NaOH → 3RCOONa + C3H5(OH)3
ntristearin =
ntriolein =
(mol) ; ntripalmitin =
mol.
nNaOH = 0,3488 kmol; nglycerol = 0,1163 kmol.
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng, ta có:
mRCOONa = 100+40x0,3488-0,1163x92 = 103,25 kg
4. VẬN DỤNG CAO (2 CÂU)
Câu 1: Một loại chất béo có chứa 75% tristearin về khối lượng. Để sản xuất 4 nghìn bánh xà phòng cần dùng tối thiểu x kg loại chất béo trên cho phản ứng với dung dịch NaOH đun nóng. Biết rằng trong mỗi bánh xà phòng có chứa 70 gam sodium stearate. Tìm x.
Trả lời:
Số mol sodium stearate là: 4.103.70 = 280.103 g = 280 kg
Phương trình hoá học: (C17H35COO)3C3H5 + 3NaOH
3C17H35COONa + C3H5(OH)3
Khối lượng tristearin là: 280.890:918 = 274,46 kg
Khối lượng chất béo là: 271,46:75x100 = 361,9 kg.
Câu 2: Một loại chất béo có chứa 80% tristearin về khối lượng. Để sản xuất 9,2 triệu chai nước rửa tay (có chứa chất dưỡng ẩm glycerol) cần dùng tối thiểu x tấn loại chất béo trên cho phản ứng với dung dịch NaOH, đun nóng. Biết rằng trong mỗi chai nước rửa tay có chứa 6 gam glycerol. Giá trị của x là bao nhiêu?
Trả lời:
Khối lượng glycerol là: 9,2.106.6 = 55,2.106 gam = 55,2 tấn.
Phương trình hoá học: (C17H35COO)3C3H5 + 3NaOH
3C17H35COONa + C3H5(OH)3
Khối lượng tristearin là: 55,2.890 : 92 = 534 tấn.
Khối lượng chất béo là: 534:80x100 = 667,5 tấn.
Tài liệu cùng môn học
- Trắc nghiệm hóa học 12 kết nối tri thức
- Giáo án word hóa học 12 kết nối tri thức
- Giáo án ppt hóa học 12 kết nối tri thức
- Giáo án chuyên đề hóa học 12 kết nối tri thức
- Giáo án ppt chuyên đề hóa học 12 kết nối tri thức
- Giải hóa học 12 kết nối tri thức
- Phiếu bài tập hóa học 12 kết nối tri thức
- Giải chuyên đề hóa học 12 kết nối tri thức
- Lý thuyết hóa học 12 kết nối tri thức
- Bài tập củng cố Hóa học 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm đúng sai hóa học 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm trả lời ngắn hóa học 12 kết nối tri thức
- Đề thi hóa học 12 kết nối tri thức
- Ppt trò chơi AI Hoá học 12 Kết nối tri thức
- Video AI mở đầu Hoá học 12 kết nối tri thức
Tài liệu khác
- Trắc nghiệm văn 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm địa lí 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm hóa học 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm KTPL 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm lịch sử 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm sinh học 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm toán 12 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm quốc phòng 12 kết nối tri thức
- => Xem nhiều môn hơn