Trắc nghiệm đúng sai KTPL 11 kết nối: Bài 9 Quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật

Phiếu trắc nghiệm đúng/sai Giáo dục Kinh tế và Pháp luật 11 kết nối tri thức: Bài 9 Quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật. Bộ câu hỏi trong phiếu trắc nghiệm giúp học sinh vừa ôn tập các kiến thức đã học vừa tiếp cận với dạng bài tập mới. Các câu hỏi có độ khó tăng dần đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ thật kĩ trước khi lựa chọn đáp án. Tài liệu có thể tải về và chỉnh sửa.

Nội dung chi tiết

BÀI 9. QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRƯỚC PHÁP LUẬT

Câu 1. Cho các thông tin sau:

“Anh Nam và chị Hoa cùng làm việc tại một công ty tư nhân. Cả hai đều có bằng đại học chuyên ngành kế toán và 5 năm kinh nghiệm làm việc. Tuy nhiên, chị Hoa được trả lương thấp hơn anh Nam 30% chỉ vì chị là nữ giới. Khi chị Hoa phát hiện ra sự chênh lệch này, chị đã khiếu nại lên ban giám đốc công ty. Ban giám đốc giải thích rằng nam giới thường làm việc hiệu quả hơn nên xứng đáng được trả lương cao hơn. Không đồng ý với cách giải quyết của công ty, chị Hoa đã làm đơn khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”

a) Ban giám đốc công ty có quyền quyết định mức lương khác nhau cho nam và nữ dựa trên định kiến về giới tính mà không cần căn cứ vào năng lực và hiệu quả công việc thực tế.

b) Việc công ty trả lương chênh lệch giữa nam và nữ khi họ có cùng trình độ, kinh nghiệm và vị trí công việc là hành vi vi phạm quyền bình đẳng trong lao động, vi phạm pháp luật.

c) Vì đây là công ty tư nhân nên họ có toàn quyền quyết định chính sách lương và không bị ràng buộc bởi các quy định về bình đẳng giới trong lao động.

d) Chị Hoa có quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi quyền bình đẳng của mình bị xâm phạm, và cơ quan này có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Câu 2. Cho các thông tin sau:

“Ông Thành (52 tuổi) và anh Minh (27 tuổi) cùng bị bắt quả tang khi đang vận chuyển ma túy với cùng khối lượng và loại ma túy. Trong quá trình điều tra, ông Thành đã đề nghị được xử lý nhẹ hơn vì ông là người lớn tuổi và có nhiều con cháu phụ thuộc. Ngược lại, anh Minh cho rằng mình còn trẻ, chưa có gia đình nên đề nghị được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội hoàn lương.”

a) Cả ông Thành và anh Minh đều phải bị xét xử theo cùng một điều luật và khung hình phạt vì họ phạm cùng một tội với tính chất và mức độ giống nhau.

b) Ông Thành cần được xử lý nhẹ hơn vì là người lớn tuổi và có nhiều người phụ thuộc.

c) Anh Minh nên bị xử nặng hơn vì còn trẻ, chưa có gia đình nên cần răn đe mạnh mẽ hơn.

d) Hoàn cảnh gia đình và độ tuổi có thể được xem xét như tình tiết giảm nhẹ, nhưng không phải là căn cứ để phân biệt đối xử trong việc áp dụng pháp luật.

Câu 3. Cho các thông tin sau:

“Tại trường THPT H, trong kỳ thi học kỳ 1 môn Toán, học sinh Minh (con của Chủ tịch UBND huyện) và học sinh Hùng (con của một gia đình nông dân) đều bị giám thị phát hiện sử dụng điện thoại để tra cứu đáp án. Theo quy chế thi của trường, học sinh vi phạm quy chế thi sẽ bị điểm 0 môn thi đó và bị kỷ luật cảnh cáo trước toàn trường.

Tuy nhiên, sau khi nhận được cuộc gọi từ phụ huynh của Minh, hiệu trưởng đã chỉ đạo giáo viên bộ môn cho phép Minh được thi lại với đề khác, đồng thời không đưa vụ việc ra hội đồng kỷ luật. Ngược lại, Hùng bị xử lý theo đúng quy chế: điểm 0, kỷ luật cảnh cáo trước toàn trường và thông báo về gia đình.”

a) Hiệu trưởng có quyền linh hoạt trong việc áp dụng quy chế thi đối với những học sinh có phụ huynh là lãnh đạo địa phương để duy trì mối quan hệ tốt và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà trường.

b) Cả Minh và Hùng đều phạm cùng một lỗi nên phải chịu hình thức kỷ luật như nhau theo quy chế của trường, không phân biệt gia cảnh hay địa vị xã hội của phụ huynh.

c) Việc xử lý nghiêm khắc đối với Hùng là cần thiết để răn đe các học sinh khác, trong khi có thể nương nhẹ với Minh vì ảnh hưởng đến uy tín của gia đình và địa phương.

d) Hành vi của hiệu trưởng trong việc cho phép Minh thi lại và không kỷ luật là vi phạm nguyên tắc bình đẳng trong giáo dục, đồng thời tạo tiền lệ xấu và làm giảm tính nghiêm minh của các quy định nhà trường.