Viết một đoạn văn (khoảng 10 – 12 dòng) phân tích tác dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong một bài thơ mà em đã học hoặc đã đọc

Tổng hợp những bài văn, đoạn văn hay nhất trong chương trình học của Ngữ văn 11 cánh diều. Phần tổng hợp dưới đây là ngữ liệu tham khảo giúp học sinh biết cách tìm ý, diễn đạt câu văn, chắt lọc từ ngữ và hình thành ý tưởng trong quá trình làm bài. Mời các em cùng tham khảo: Viết một đoạn văn (khoảng 10 – 12 dòng) phân tích tác dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong một bài thơ mà em đã học hoặc đã đọc.

Nội dung chi tiết

Đề tài: Viết một đoạn văn (khoảng 10 – 12 dòng) phân tích tác dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong một bài thơ mà em đã học hoặc đã đọc.

Bài tham khảo 1: Phân tích biện pháp tư từ lặp cấu trúc

Trong bài thơ "Tôi yêu em" của nhà thơ Puskin, ông đã khéo léo sử dụng biện pháp điệp cấu trúc để tạo nên một bức tranh tình yêu sâu sắc, đầy cảm xúc. Đoạn thơ thứ hai đặc biệt nổi bật khi ông viết: "Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng/.../Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm/...". Puskin tập trung nhấn mạnh vào tình yêu mà người đàn ông dành cho người phụ nữ. Tình yêu này có thể tỏ ra lặng lẽ, nhưng cũng có thể bùng cháy mãnh liệt và nồng nàn. Dù biểu hiện qua hình thức nào, tình cảm này vẫn được tác giả mô tả như một sự chân thành tuyệt vời, không hề mong muốn bất kỳ điều gì hồ hợp. Việc lặp lại từ "yêu" ba lần trong đoạn thơ càng làm nổi bật và khẳng định mạnh mẽ hơn về cảm xúc đích thực của cặp đôi. Điều này rõ ràng thể hiện sự sâu sắc và đa chiều của tình yêu trong mắt của Puskin. Mỗi lần lặp lại, từ "yêu" không chỉ đơn giản là một từ ngữ mà còn chứa đựng cả một bộc phát cảm xúc mạnh mẽ, làm cho độc giả cảm nhận được vẻ đẹp và sức mạnh của tình yêu trong tác phẩm. Thông qua đoạn thơ ngắn nhưng đầy ý nghĩa này, Puskin đã thể hiện tài năng văn chương của mình cùng lòng chân thành và xúc cảm sâu sắc về tình yêu. Bức tranh tình yêu trong bài thơ "Tôi yêu em" từ đó trở nên rực rỡ và ấn tượng đối với người đọc, với sự tinh tế và sức mạnh của từng câu từ.

Bài tham khảo 2: Phân tích biện pháp tư từ lặp cấu trúc

"Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này..."

Trong đoạn thơ này, tác giả Viễn Phương đã nói lên được những ước ao, mong mỏi của bản thân. Từ đó, thể hiện niềm kính yêu sâu sắc dành cho vị cha già vĩ đại của dân tộc. Điệp ngữ "muốn làm" kết hợp với hàng loạt những danh từ phía sau chính là minh chứng cho điều đó. Ông nguyện hóa thân thành con chim, ngày ngày cất tiếng hót reo vui bên Bác. Ông ước mong trở thành một đóa hoa, làm đẹp thêm cho nơi Bác yên nghỉ. Và ông còn muốn hóa thành cây tre trung hiếu, canh giữ và bảo vệ cho giấc ngủ ngàn thu của Hồ Chủ tịch. Chỉ một vài chi tiết ấy thôi, độc giả cũng thấy được tình yêu, lòng kính trọng của nhà thơ đối với Bác Hồ. Biện pháp lặp cấu trúc đã nhấn mạnh nỗi khát khao cháy bỏng trong lòng tác giả. Đồng thời, giúp câu thơ trở nên nhịp nhàng và da diết vô cùng.

Bài tham khảo 3: Phân tích biện pháp tư từ lặp cấu trúc

Trong đoạn trích từ tác phẩm "Sóng" của Xuân Quỳnh, tác giả đã tương đối thành công khi áp dụng kỹ thuật lặp cấu trúc để tạo ra hiệu ứng khá ấn tượng: "Sóng bắt đầu từ gió/Gió bắt đầu từ đâu/Em cũng không biết nữa/Khi nào ta yêu nhau". Trong phần này, người phụ nữ đứng trước biển cảm thấy mênh mông và rợn ngợp, bắt đầu tự hỏi về nguồn gốc của sóng, cũng như của tình yêu. Mặc dù cô đã cố gắng giải thích dựa trên quy luật tự nhiên, nhưng vẫn không thể tìm ra câu trả lời cho chính mình. Từ đó, tác giả nhấn mạnh sự phức tạp của tình yêu, một khía cạnh mà không ai có thể giải thích hoặc hiểu rõ được.

Bài tham khảo 4: Phân tích biện pháp tư từ lặp cấu trúc

"Nhìn thấy gió xoa vào mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái"

Bằng biện pháp lặp cấu trúc tài tình, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã thành công khắc họa sự khó khăn mà người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn phải trải qua. Những chiếc xe quân dụng mà lại không có kính - một điều vô cùng bất lợi đối với người sử dụng. Chính bởi lí do đó mà gió tạt làm "mắt đắng". Nhưng cũng nhờ vậy, người lính có thể thấy rõ hơn con đường phía trước, có thể ngắm nhìn được bầu trời sao rộng lớn cùng những cánh chim bay lượn phía trên. Cái bi đã được lãng mạn hóa bởi thi nhân đã nhìn nó dưới con mắt tinh tế cùng tâm hồn lạc quan. Phép lặp cấu trúc vừa nhấn mạnh sự gian khổ của hoàn cảnh, vừa làm nổi bật lên vẻ đẹp tinh thần đáng trân trọng của những người chiến sĩ ngoài mặt trận.

Bài tham khảo 5: Phân tích biện pháp tư từ lặp cấu trúc

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Chỉ trong 5 câu nhơ ngắn ngủi, nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã sử dụng một loạt biện pháp tư từ điệp từ (đây, là, của, chúng ta), điệp ngữ (của chúng ta) và điệp cấu trúc (Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta). Nhờ việc sử dụng các biện pháp tu từ đoa mà tác giả đã thành công trong việc nhấn mạnh, khẳng định những hình ảnh thiên nhiên của đất nước Việt Nam là của con người Việt Nam. Biện pháp cũng óp phần tạo nên nhịp thơ dồn dập, giọng điệu hào hùng nhằm khẳng định ý thức chủ quyền về lãnh thổ, niềm tự hào về cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, trù phú của đất nước.

Bài tham khảo 6: Phân tích biện pháp tư từ lặp cấu trúc

iện pháp lặp cấu trúc đã được tác giả khéo léo gài gắm vào hai câu thơ trích trong tác phẩm "Lời tiễn dặn": "Đừng bỏ em trơ trọi giữa rừng/Đừng bỏ em giữa dòng thác trào dâng!". Cụm từ "đừng bỏ em" đã nói lên cảm xúc lưu luyến, không nỡ của người con gái khi phải chia xa. Tính từ "trơ trọi" càng khiến cho nỗi cô đơn, lạc lõng bao trùm hết thảy không gian. "Dòng thác trào dâng" hay cũng chính là sự tuôn trào của cảm xúc. Người con trai ra đi mang theo bao nỗi niềm. Người con gái ở lại cũng ôm theo vô vàn tiếc nuối. Có thể nói, biện pháp lặp cấu trúc đã góp phần đẩy cảm xúc của đoạn thơ lên cao, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.

Bài tham khảo 7: Phân tích biện pháp tư từ lặp cấu trúc

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa.

(Nguyễn Đình Thi)

Trong đoạn thơ trên, nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã sử dụng một loạt biện pháp tu từ điệp từ (đây, là, của, chúng ta), điệp ngữ (của chúng ta) và điệp cấu trúc (Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta). Nhờ việc sử dụng phép lặp cấu trúc mà tác giả đã thành công trong việc nhấn mạnh, khẳng định những hình ảnh thiên nhiên của đất nước Việt Nam là của con người Việt Nam. Đồng thời thể hiện tư thế của nhân vật trữ tình trong mấy câu thơ trên là thế đứng của con người kiêu hãnh ngẩng cao đầu sau bao năm chiến đấu gian khổ, giành được quyền làm chủ đất nước. Trời thu, núi rừng, những cánh đồng thơm mát, những ngả đường bát ngát, những dòng sông đỏ nặng phù sa trở nên đẹp đẽ, đáng yêu lạ thường, vì đã thuộc về ta. Biện pháp cũng góp phần tạo nên nhịp thơ dồn dập, giọng điệu hào hùng nhằm khẳng định ý thức chủ quyền về lãnh thổ, niềm tự hào về cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, trù phú của đất nước.

Bài tham khảo 8: Phân tích biện pháp tư từ lặp cấu trúc

Sóng là một hình tượng động, bất biến chính vì vậy mà sóng được các nhà thơ chọn làm thi liệu để biểu tượng cho tình yêu. Xuân Quỳnh đã mượn sóng để biểu tượng cho những cung bậc tình cảm của người phụ nữ trong tình yêu với thật nhiều những khát khao và biến động.

Trong khổ thơ:

Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?

Nhìn thấy sóng, “em nghĩ về anh, em”. Bằng biện pháp lặp cấu trúc “em nghĩ về” đã càng nhấn mạnh nỗi suy tư của tác giả. Đúng là một tâm hồn đang khao khát tình yêu đẹp đẽ. Bởi đứng trước sự bao la của thiên nhiên, sóng bể, tác giả không nghĩ tới bản thân, gia đình mà nghĩ ngay tới “anh”. Và đến khi gặp sóng, nhìn thấy sóng dạt dào và dịu êm, em thấy như lòng mình. “Em”, “anh” và “sóng” có một sợi dây liên kết. Bởi hình ảnh sóng là nỗi lòng của tác giả, là của nhân vật trữ tình em, của người con gái đang yêu.

Bài tham khảo 9: Phân tích biện pháp tư từ lặp cấu trúc

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Chỉ trong 5 câu nhơ ngắn ngủi, nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã sử dụng một loạt biện pháp tư từ điệp từ (đây, là, của, chúng ta), điệp ngữ (của chúng ta) và điệp cấu trúc (Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta). Nhờ việc sử dụng các biện pháp tu từ đoa mà tác giả đã thành công trong việc nhấn mạnh, khẳng định những hình ảnh thiên nhiên của đất nước Việt Nam là của con người Việt Nam. Biện pháp cũng góp phần tạo nên nhịp thơ dồn dập, giọng điệu hào hùng nhằm khẳng định ý thức chủ quyền về lãnh thổ, niềm tự hào về cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, trù phú của đất nước.

Bài tham khảo 10: Phân tích biện pháp tư từ lặp cấu trúc

Về với nhân dân là về với ngọn nguồn của sự sống, của hạnh phúc; là về nơi đã nuôi dưỡng, chở che, cưu mang mình. Đây là hành động cần thiết và kịp thời đối với tầng lớp văn nghệ sĩ để được tiếp thêm niềm tin và sức mạnh trên con đường sáng tạo nghệ thuật: Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa, Chiếc nôi dừng bỗng gặp cánh tay đưa. Khát vọng lên Tây Bắc gợi nhớ cả một trời kỉ niệm về những năm tháng kháng chiến gian nan, nguy hiểm mà ấm áp tình người:

Con nhớ anh con người anh du kích

Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn

Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách

Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con.

Con nhớ em con thằng em liên lạc

Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ

Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc

Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư.

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc

Năm con đau, mế thức một mùa dài.

Con với mế không phải hòn máu cắt

Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi.

Khát vọng trở về với nhân dân được nhà thơ thể hiện thông qua những cảm xúc chân thành, những kỉ niệm sâu sắc gắn liền với từng con người tiêu biểu cho sự hi sinh, đùm bọc của nhân dân trong kháng chiến. Nhân dân ở đây không còn là một khái niệm chung chung, mà là những con người cụ thể, gần gũi. Đó là người anh du kích với Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách, Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con, là thằng em liên lạc, Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ; là bà mế lửa hồng soi tóc bạc, Năm con đau mế thức một mùa dài,… Với những điệp ngữ và cách xưng hô thân tình: Con nhớ anh con, Con nhớ em con, Con nhớ mế,… nhà thơ đã thể hiện tình cảm đằm thắm với những con người đã từng gắn bó máu thịt với mình, chia sẻ từng vắt cơm, manh áo trong hoàn cảnh khó khăn của kháng chiến.