Bàn luận một vấn đề xã hội mà em thấy có ý nghĩa được đặt ra trong các tác phẩm văn xuôi hoặc truyện thơ Nôm đã học trong Ngữ văn 11, tập một.
Nội dung chi tiết
Đề tài: Bàn luận một vấn đề xã hội mà em thấy có ý nghĩa được đặt ra trong các tác phẩm văn xuôi hoặc truyện thơ Nôm đã học trong Ngữ văn 11, tập một.
Bài tham khảo 1: Bàn luận tình yêu thương con người trong tác phẩm Chí Phèo (Nam Cao)
Tình yêu thương, một chủ đề bất tận và sâu sắc, không chỉ tồn tại trong mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, mà còn ảnh hưởng đến toàn thể xã hội. Dù qua nhiều thế hệ và bối cảnh khác nhau, tình yêu vẫn luôn là nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho các tác giả, họa sĩ và nhạc sĩ. Nam Cao, một trong những ngòi bút tiêu biểu của văn học Việt Nam, cũng không ngoại lệ. Trong tác phẩm nổi tiếng "Chí Phèo", ông đã không lý tưởng hóa tình yêu thành những hình ảnh lãng mạn hay thơ mộng mà thay vào đó, ông xây dựng một bức tranh rõ nét về tình yêu chân thực, thể hiện sức mạnh và vai trò quan trọng của tình yêu thương giữa con người.
Câu chuyện tình yêu giữa Thị Nở và Chí Phèo là một minh chứng sống động cho sức mạnh của tình yêu thương. Hành động chăm sóc Chí Phèo bằng bát cháo hành nóng hổi của Thị Nở không chỉ đơn thuần là một cử chỉ từ bi, mà còn là một biểu hiện sâu sắc của tình người. Chính thức ăn giản dị ấy đã làm sống dậy trong Chí Phèo những khát khao được làm người, được sống một cuộc đời lương thiện. Từ một con quỷ của làng Vũ Đại, Chí Phèo đã tìm thấy nơi Thị Nở một ánh sáng, một tình yêu thương có thể giúp hắn thay đổi cuộc đời. Thế nhưng, cuộc sống đầy thực dụng và sự hắt hủi của xã hội lại một lần nữa đẩy Chí Phèo ra ngoài vòng tay yêu thương. Nếu con người có thể sống vị tha hơn, biết cảm thông và yêu thương nhau nhiều hơn, có lẽ Chí Phèo đã không phải chịu đựng cảnh đơn côi, đau khổ như vậy.
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, giá trị của tình yêu thương càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Khi mà con người phải đối mặt với những áp lực từ công việc, cuộc sống hàng ngày và cả sự bùng nổ của công nghệ thông tin, tình yêu thương là sợi dây kết nối, giúp chúng ta gần gũi hơn. Yêu thương không chỉ là sự sẻ chia mà còn là sự hy sinh, giúp đỡ lẫn nhau. Khi có tình yêu thương, con người có sức mạnh vượt qua mọi khổ đau, khó khăn. Tình yêu thương không chỉ nuôi dưỡng tâm hồn mà còn thúc đẩy sự phát triển nhân cách, tạo ra một cộng đồng tốt đẹp, văn minh và thịnh vượng.
Lòng yêu thương giữa con người với nhau có thể xuất hiện trong những hình thức rất giản dị nhưng lại mang sức mạnh phi thường. Đó có thể là tình cảm gia đình bền chặt, lòng biết ơn của con cái đối với cha mẹ, hay sự tương hỗ giữa những người hàng xóm trong lúc khó khăn. Nhà giáo dục, thầy cô luôn tâm huyết truyền đạt kiến thức và dẫn dắt thế hệ trẻ. Và dù đất nước đã hòa bình, nhưng khi thiên tai xảy ra, những cuộc cứu trợ từ thiện lại cho thấy tình yêu thương luôn hiện hữu trong cuộc sống chúng ta, từ những chiếc áo, quyển sách đến gói đồ ăn. Nhờ có tinh thần đoàn kết, sẻ chia, mọi khó khăn đều có thể vượt qua.
Để thực sự hiểu và trân trọng giá trị của tình yêu thương, mỗi cá nhân cần rèn luyện và phát triển đức tính này. Khi chúng ta mở lòng yêu thương, ta không chỉ cho đi mà còn thu nhận lại được nhiều hơn từ cuộc sống. Trong xã hội hiện nay, nhiều tổ chức nhân quyền và thiện nguyện ra đời với sứ mệnh nâng cao giá trị nhân phẩm, quyền lợi con người, tất cả đều bắt nguồn từ tình yêu thương giữa mọi người với nhau.
Cuối cùng, hãy nhớ rằng yêu thương chính bản thân mình và yêu thương người khác một cách chân thành sẽ giúp duy trì và phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, như cha ông ta đã từng khuyên:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”.
Chỉ khi chúng ta sống và thực hiện những yêu thương, sẻ chia chân thành, xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn, và bản thân chúng ta cũng sẽ tìm thấy ý nghĩa thật sự trong cuộc sống.
Bài tham khảo 2: Bàn luận bất công với phụ nữ trong tác phẩm Thúy Kiều (Nguyễn Du)
Chế độ phong kiến với những định kiến lạc hậu, hà khắc đã trói buộc người phụ nữ trong sợi dây vô hình của sự bất công. Tuy nhiên, mặc cho sự giằng xé đầy đau đớn và tủi hờn của sợi dây đó, người phụ nữ vẫn luôn giữ cho mình những nét đẹp riêng cùng cốt cách thanh cao. Bằng sự đồng cảm với số phận bất hạnh ấy, nhiều nhà văn đã khai thác và lưu giữ hình ảnh người phụ nữ đại diện cho cái đẹp hoàn mỹ bằng những ngôn từ của nghệ thuật.
Trong đó, “Chuyện người con gái Nam Xương” (Nguyễn Dữ) và “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) là hai tác phẩm tiêu biểu cất lên tiếng khóc thương cho thân phận người phụ nữ. Dẫu Kiều và Vũ Nương, mỗi người đều có những hoàn cảnh riêng, nhưng họ lại mang những nỗi đau chung cùng nét đẹp đại diện cho người phụ nữ Việt bao đời nay.
“Chuyện người con gái Nam Xương” kể về cuộc đời và số phận bi thảm của Vũ Nương. Vũ Nương là một người con gái có nhan sắc và đức hạnh vẹn toàn. Nàng lấy phải người chồng tên Trương Sinh, là con của nhà hào phú nhưng ít học, lại hay đa nghi, cả ghen. Cuộc sống gia đình đang êm ấm thì Trương Sinh phải đi lính. Cũng từ đó, bi kịch của đời nàng đã bắt đầu.
Khi chồng đi đầy tuần thì Vũ Nương sinh ra một đứa con trai, nàng hết lòng nuôi dạy con, lại chăm sóc, lo ma chay cho mẹ già chu đáo. Đồng thời, nàng cũng luôn chung thủy đợi tin chồng về. Đêm đêm, để nguôi ngoai nỗi nhớ chồng và dỗ con mỗi lần nhớ cha, nàng thường trỏ bóng mình trên vách và nói với con rằng đó chính là cha Đản.
Khi Trương Sinh trở về, nghe lời con trẻ, liền nghi ngờ vợ mình thất tiết. Chàng ta chẳng hề cho nàng cơ hội giải thích, thanh minh đã nhục mạ rồi đánh đuổi nàng đi. Vì phẫn uất, Vũ Nương đã nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Một thời gian sau, khi đã biết được nỗi oan của vợ, Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng. Nàng hiện về giữa bến Hoàng Giang, rồi lại lúc ẩn, lúc hiện và biến mất.
Truyện Kiều là câu chuyện xoay quanh cuộc đời gian truân của Thúy Kiều. Kiều là con gái đầu lòng trong một gia đình trung lưu lương thiện. Nàng sống cùng cha mẹ và hai em, nổi tiếng bởi tài sắc vẹn toàn. Trong một buổi du xuân, Kiều đã gặp Kim Trọng và cả hai nảy sinh tình cảm, tự do đính ước với nhau. Nhưng chuyện vui chưa kịp mừng, chuyện buồn liền ập đến. Khi Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều đã bị mắc oan.
Vì cha và em, Kiều phải bán mình cho bọn buôn người. Chúng đẩy nàng vào chốn lầu xanh, dẫu may mắn gặp Thúc Sinh cứu vớt, nhưng nàng phải chịu sự đầy đọa của vợ cả là Hoạn Thư. Thúy Kiều phải đến nương nhờ nơi cửa phật, rồi lại vô tình bị đẩy vào lầu xanh lần hai khi sư Giác Duyên gửi nàng cho Bạc Bà.
Lần này, Kiều gặp được Từ Hải và được chàng ta giúp đỡ báo ân báo oán. Chưa kịp hạnh phúc, tai ương lại ập đến. Từ Hải bị Hồ Tôn Hiến hãm hại rồi hắn ép gả nàng cho viên thổ quan. Quá đau đớn, dằn vặt và tủi hờn, Kiều đã trẫm mình tại sông Tiền Đường và lại được sư Giác Duyên cứu giúp lần hai. Sau đó, nàng đã nương nhờ nơi cửa phật.
Lại nói, chàng Kim sau khi trở về biết chuyện và dù đã kết hôn với Thúy Vân, nhưng chàng cũng chẳng thể buông bỏ được mối tình đậm sâu với người cũ. Cuối cùng, nhờ gặp được sư Giác Duyên, Kim Kiều đã gặp nhau và gia đình đoàn tụ.
Nguyễn Du đã từng viết:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Đó là tiếng nấc nghẹn ngào cho thân phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội đương thời mà Nguyễn Du khóc thương thay cho họ. Dường như, ông thấu hiểu rõ sự đau khổ và bất lực của họ khi sống trong một xã hội thối nát với đầy rẫy những bất công, định kiến, của tư tưởng trọng nam khinh nữ.
Người phụ nữ đương thời, ai cũng đều thùy mị, đảm đang nhưng chẳng bao giờ giữ được hạnh phúc cho riêng mình. Đến cả việc mưu cầu hạnh phúc cũng chỉ như một giấc mơ xa vời với họ. Họ mang thân phận người phụ nữ hèn mọn, dù mỗi người một cuộc sống riêng, nhưng chẳng ai thoát khỏi sức nặng của hai từ “bạc mệnh. Ta có thể thấy rõ được điều đó qua nhân vật Vũ Nương và Thúy Kiều trong hai tác phẩm của hai tác giả đại tài.
Người phụ nữ xuất hiện trong văn chương đều là những người xinh đẹp, đẹp cả ngoại hình cho đến tính cách và nội tâm. Ở Vũ Nương, nàng mang nét đẹp “thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”, luôn biết cách dung hòa mặc cho tính khí của chồng khi “giữ gìn khuôn phép, chưa từng lúc nào để vợ chồng xảy ra bất hòa”. Nàng luôn một lòng một dạ vì gia đình, không hề than thở hay mong cầu vinh hoa phú quý.
Với Thúy Kiều, nàng là một người con gái tài sắc vẹn toàn. Khi gia đình gặp biến cố, nàng đã không ngại đối diện với thị phi, với tương lai mù mịt phía trước để bán mình chuộc cha. Và rồi, nàng bỏ lỡ lời hẹn thề với Kim Trọng - người mà nàng yêu thương nhất. Cuộc đời nàng dẫu có bao nhiêu biến cố, bao nhiêu thăng trầm, nhưng nàng vẫn cam chịu, vẫn lo nghĩ cho Kim Trọng, cho gia đình mà chẳng màng đến bản thân. Nàng có một tâm hồn thủy chung và cao thượng.
Đó cũng chính là nét đẹp chung của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ đẹp người đẹp nết, dẫu đời đưa họ vào cảnh khốn cùng, họ vẫn luôn một lòng thủy chung, hiếu thảo với gia đình, mặc kệ bản thân chịu dày vò trong hố đen tuyệt vọng.
Họ đẹp đẽ là thế, đáng trân trọng là thế, nhưng họ lại sống trong một xã hội quá thối nát với bộ máy quan lại mục rỗng, với tư tưởng lạc hậu trọng nam khinh nữ. Họ càng xinh đẹp thì càng phải chịu cảnh bất công “hồng nhan bạc phận”. Vũ Nương cứ ngỡ sẽ được sum vầy hạnh phúc nếu luôn chăm lo chu toàn mọi thứ, nhưng số phận bạc bẽo lại trêu ngươi nàng. Đến cả khi nàng chết trong oan ức, nàng cũng không được nhớ nhung, không được thương tâm. Đáp lại nàng chỉ là sự hời hợt, vô tâm của người chồng. Và chính cái chết của nàng đã tố cáo xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Cái xã hội ấy đã đẩy người phụ nữ vào đường cùng, ban cho họ thân phận thấp hèn và một cuộc đời bi thương.
Còn Thúy Kiều, nàng dường như có cuộc sống lênh đênh hơn Vũ Nương rất nhiều bởi những biến cố đi qua và hằn sâu vết sẹo vào đời nàng. Gia đình nàng vì đồng tiền hôi tanh mà phải chia ly, tan tác. Nàng cũng vì thế mà phải bán mình chuộc cha, để rồi trở thành món hàng không hơn không kém trong tay bọn buôn người. Đau đớn thay cho nàng, một người con gái trong trắng, tài sắc vẹn toàn nay chỉ là một món đồ chơi của bọn khách làng chơi. Không chỉ thế, nàng còn phải chịu cảnh đời lênh đênh bèo dạt, lưu lạc mười lăm năm và bị giáng xuống đầu muôn vàng tai ương.
Vũ Nương và Thúy Kiều chính là những nhân vật đại diện cho số phận người phụ nữ trong xã hội xưa. Họ không có quyền lợi, không có tự do, cũng chẳng có quyền được hạnh phúc - một cái quyền cơ bản nhất của con người. Họ bị hủ tục thối nát của xã hội phong kiến đẩy xuống vực sâu, chịu muôn vàn tủi hờn và đau thương. Dù họ cam chịu hay vùng vẫy, họ cũng chẳng bao giờ thoát được nanh vuốt của xã hội thối nát đó. Nhưng sau tất cả, họ vẫn giữ được cho mình vẻ đẹp đáng trân quý của tâm hồn thanh cao.
Bài tham khảo 3: Bàn luận về phẩm chất làm người trong tác phẩm Chữ người tử từ (Nguyễn Tuân)
Có lẽ trên đời ít có nhà văn nào như Nguyễn Tuân, trọn đời đi tìm cái đẹp. Người tìm cái đẹp trong muôn hình vạn trạng của cuộc sống, và tái hiện cái đẹp bằng tài hoa của mình. Chỉ có ở Nguyễn Tuân ta mới tìm thấy sự giao thoa kim cổ tài tình, ngôn ngữ văn học tinh tế, đạt đến sự hoàn thiện của chân - thiện - mỹ. Trước Cách mạng tháng Tám, trong sự bất hòa sâu sắc với xã hội đương thời, Nguyễn Tuân lội ngược dòng trở về tìm kiếm những nét đẹp xưa cũ, những tinh túy chắt chiu từ ngàn đời trong văn hóa dân tộc. Những tinh hoa ấy văn nhân gói ghém trọn vẹn trong tập "Vang bóng một thời". Trong đó, đặc sắc nhất phải kể đến tác phẩm "Chữ người tử tù" với hình tượng nhân vật Huấn Cao.
Nếu Nguyễn Tuân là một "kì nhân" của nền văn học Việt, thì Huấn Cao là "kì nhân" trong vũ trụ văn học Nguyễn Tuân. Nhân vật này là kết tinh tài hoa trong ngòi bút cả đời của nhà văn, mang trọn vẹn phẩm chất của một người quân tử, cốt cách thanh cao và là điển hình cho bút pháp xây dựng hình tượng nhân vật lý tưởng của nhà văn. Dẫu bị coi là tên phản nghịch vì là thủ lĩnh của những kẻ ngang tàng dám đứng lên chống lại triều đình, bị kết án, giam cầm, trở thành kẻ tử tù chờ ngày ra pháp trường xử chém, Huấn Cao vẫn ung dung, không một chút nao núng. Bởi lẽ, "hữu xạ tự nhiên hương", người không cần chứng minh cốt cách anh hùng với những kẻ phàm phu tục tử kia làm gì. Với bút lực dồi dào và niềm say mê cái đẹp, Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công hình tượng Huấn Cao với những nét nổi bật: một nho sĩ tài hoa, một trang anh hùng hào kiệt văn võ song toàn và một người có thiên lương trong sáng.
Trước hết, Huấn Cao hiện lên là một nho sĩ tài hoa. Nguyễn Tuân khắc họa nét tài hoa ấy bằng một cái tài rất cụ thể - tài viết chữ đẹp. Qua lời đồn mang tính chất ca tụng, Huấn Cao như một truyền kỳ của người dân tỉnh Sơn bởi cái tài viết chữ "nhanh và đẹp". Phải biết rằng chữ Hán là loại chữ tượng hình và viết chữ Hán là một loại nghệ thuật đã được gọi tên: Thư pháp. Để có được nét chữ thư pháp đẹp, chỉ chăm chỉ luyện tập cho quen tay là chưa đủ. Chẳng phải tự nhiên mà ông bà ta có câu: "Nét chữ nết người." Chữ thư pháp là nghệ thuật phản ánh trọn vẹn tài hoa, cốt cách thanh cao của một người nghệ sĩ. Để viết được chữ thư pháp, người viết cần dày công khổ luyện; song muốn viết chữ thư pháp đẹp, người ấy phải thực sự mang trong mình cái tài hoa hiếm có. Vậy mà Huấn Cao không chỉ viết chữ đẹp, còn viết chữ đẹp nổi tiếng cả vùng tỉnh Sơn. Thử nghĩ mà xem: Người phải tài hoa tới đâu mà nét chữ được người dân cả một vùng khen ngợi, tới mức dẫu chưa thấy người, chưa xem chữ nhưng viên quản ngục và thầy thơ lại của một huyện nhỏ hẻo lánh cũng biết đến và đem lòng ngưỡng mộ. Người phải tài hoa tới đâu mà dẫu đã trở thành một kẻ tử tù, chữ của người vẫn là sở nguyện cháy bỏng của viên quản ngục, ngày đêm ước ao có được một bức để treo trong nhà. Tài hoa của Huấn Cao đã được Nguyễn Tuân khẳng định một cách gián tiếp nhưng vô cùng hiệu quả, thông qua lời đồn của người dân tỉnh Sơn, qua lời quản ngục và thầy thơ lại, qua mong ước của quản ngục và cả những lần biệt đãi,... Huấn Cao, dù chưa xuất hiện, song đã gây ấn tượng với người đọc về cái tài, cái cốt cách của một nho sĩ.
Không chỉ là một nho sĩ tài hoa thông thường, qua lời viên quản ngục, Huấn Cao còn có tài "bẻ khóa, vượt ngục". Tới đây ta có thể khẳng định Huấn Cao là một người văn võ song toàn. Ở Huấn Cao, dù chưa gặp mặt, ta thấy cái dáng vẻ của một kẻ chọc trời khuấy nước. Kẻ ấy ngang tàng đến nỗi dám đứng lên cầm đầu một đội quân, khởi nghĩa chống lại triều đình; để rồi đến khi sa cơ, trở thành một kẻ tử tù, vẫn khiến cho người ta kinh sợ bởi cái tài phá cũi sổ lồng. Người tài hoa tựa như cánh chim đại bàng, có lồng nào giam giữ nổi?
Chỉ hai chi tiết nhỏ ở đầu truyện, qua lời của viên quản ngục và thầy thơ lại, ta đã thấy được trọn vẹn Huấn Cao là một người tài hoa siêu việt. Huấn Cao không phải là một người chỉ mang chút tài mọn con con ở đời, người là bậc trí dũng song toàn, mà nổi bật hơn cả là biệt tài thư pháp. Nguyễn Tuân, dẫu khắc họa nhân vật là người tài hoa vượt bậc, song không hề tỏ ra chủ quan, không biến Huấn Cao trở thành kẻ "ta đây". Bởi lẽ, tài năng của Huấn Cao hoàn toàn được công nhận và truyền đạt từ người khác, đó là những người dân tỉnh Sơn, là viên quản ngục và thầy thơ lại. Huấn Cao thực sự là một người tài hoa đáng ngưỡng mộ.
Thứ hai, khi xuất hiện, Huấn Cao tỏ rõ là một người có khí phách hiên ngang. Ngay khi vừa xuất hiện, ta thấy ở Huấn Cao cái vẻ ngang tàng, ngạo nghễ. Ông không thèm chấp lời tên lính áp giải tù binh: "Các người chả phải tập nữa. Mai mốt chi đây sẽ có người sành sõi dẫn các người ra làm trò ở pháp trường. Bấy giờ tha hồ mà tập. Đứng dậy không ông lại phết cho mấy hèo bây giờ." Đối với Huấn Cao, ấy chỉ là mấy lời trẻ con. Với một kẻ đã chọc trời khuấy nước, dám đứng lên chống lại triều đình, thì mấy tên lính cỏn con, tay sai của triều đình ấy, há có thể làm ông run sợ? Trước lời nói bông đùa có ý hăm dọa, Huấn Cao chỉ lạnh lùng, "chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thành gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái". Hành động giỗ gông tỏ rõ sự coi thường không chỉ với mấy tên lính và nhà tù, mà thể hiện thái độ khinh khỉnh với cả triều đình, chế độ đã khoác lên cổ ông cái gông ấy. Huấn Cao chỉ coi cái gông ấy như một món đồ trang trí, không có giá trị gì, và dù phải đeo gông, ông cũng chẳng hề run sợ. Đã đeo gông thì phải đeo sao cho thoải mái, vậy nên ông ngang nhiên dỗ gông trước mặt tất cả những kẻ đang cầm tù mình.
Không chỉ vậy, khí phách hiên ngang của Huấn Cao còn thể hiện ở cách ông tiếp nhận rượu thịt của viên quản ngục. Ông “thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng bình lúc chưa bị giam cầm." Đó không phải tư thái của một người sa chân vào chốn ngục tù, đó là tư thái của kẻ làm chủ hoàn cảnh, làm chủ cuộc đời mình, ngạo nghễ coi khinh những kẻ tầm thường ngoài kia. Có mấy ai, đối diện trước cái chết đã được báo trước, có được khí phách hiên ngang như thế?
Tuy nhiên, Huấn Cao không phải là kẻ cậy tài ra oai, mà là người sống với thiên lương trong sáng. Ông hiện lên với cái tâm trong sáng bên cạnh tài hoa hơn người; là người có tâm hồn lương thiện sau vẻ khinh bạc lạnh lùng. Huấn Cao chỉ ngạo nghễ, khinh nhờn với bạo lực, với những kẻ có nhân cách tầm thường. Đối với những người lương thiện, ông đối xử tinh tế và chân thành đến tột cùng.
Thiên lương trong sáng của Huấn Cao thể hiện rất rõ trong cách ông đối xử với viên quản ngục. Ban đầu, ông xem thường quản ngục chỉ là kẻ tiểu nhân thị oai. Trước sự biệt đãi hậu hĩnh của viên quản ngục, Huấn Cao thản nhiên nhận lấy, song tỏ ra khinh miệt đến tàn nhẫn: "Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây." Ấy nhưng khi biết rõ tấm lòng quản ngục, Huấn Cao đồng ý cho chữ ngay. Chữ của Huấn Cao vốn là một thứ quý giá, bởi với Huấn Cao, ông "không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ". Cả đời ông mới chỉ viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân. Nhận viết chữ cho viên quản ngục, nghĩa là Huấn Cao bằng lòng xem viên quản ngục ấy là tri kỉ, và còn cảm thán vì suýt chút nữa "ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ". Cái thiên lương trong sáng của Huấn Cao thể hiện rất rõ trong hành động đồng ý cho chữ, ông không ngần ngại thân phận quản ngục, càng không đem lòng thù ghét triều đình trút lên người viên quan nhỏ bé ấy. Ông nhận cho chữ vì cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài, vì tiếc thương một tấm lòng trong thiên hạ.
Thiên lương trong sáng của Huấn Cao còn được thể hiện trong lời khuyên của ông dành cho quản ngục: "Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nói lên những hoài bão tung hoành của một đời con người. (...) Ta bảo thực đấy: thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, hãy thoát khỏi cái nghề này đi, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi." Bằng thiên lương trong sáng của mình, Huấn Cao nhận ra tâm hồn đẹp của quản ngục, và thật lòng khuyên quản ngục gìn giữ lấy thiên lương và nét lương thiện của mình. Cái đẹp, ở đây là con chữ, đại diện cho thiên lương trong sáng, cốt cách và tài hoa của Huấn Cao, có thể được sinh ra, và đã được sinh ra ở nơi lem luốc bẩn thỉu, nơi tột cùng cái ác - nhà tù. Nhưng cái đẹp ấy không thể tồn tại song song cùng cái xấu, cái ác, mà cần được bảo vệ, gìn giữ ở nơi thanh sạch, trong lành. Huấn Cao khuyên quản ngục rời chốn nhà tù rồi mới nghĩ đến thú chơi chữ, ấy là khuyên người ta hãy giữ lấy cái thiên lương lành vững và giữ tấm lòng lương thiện vậy.
Huấn Cao là nhân vật mang những phẩm chất tuyệt đẹp của người anh hùng, là kết tinh tài hoa dưới ngòi bút Nguyễn Tuân. Cái tài, cái đẹp đã chiến thắng trước cái xấu, cái ác, cái dơ bẩn. Thông qua hình tượng Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã khéo léo bộc lộ tình yêu nước và tinh thần dân tộc thầm kín của mình.
Bài tham khảo 4: Bàn luận về tình yêu thương trong tác phẩm Chí Phèo (Nam Cao)
Con người ta sinh ra, được sống trên đời đã là một hạnh phúc lớn. Nhưng có lẽ được sống trong lòng của người khác còn là hạnh phúc lớn hơn. Đó chính là khi có cảm giác yêu thương và được yêu thương. Nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm của nhà văn Nam Cao cũng vậy.
Chí Phèo từng là một đứa trẻ bị bỏ rơi. Vốn là người thật thà, tốt tính đi làm thuê cho nhà Bá Kiến. Thế nhưng vì sự ghen tuông vô lí của mình, Bá Kiến đã đẩy Chí Phèo vào tù. Bảy, tám năm sau Chí Phèo ra tù nhưng giờ đây hắn không còn là con người như trước. Hắn tìm đến nhà Bá Kiến để trả thù. Hắn trở thành một tên lưu manh, biến chất, nó thể hiện rõ nét qua đoạn mở đầu câu chuyện “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cùng thể, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời có hề gì trời có của riêng nhà nào?. Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng làng Vũ Đại ai cũng tự nhủ: “Chắc nó trừ mình ra! Không ai lên tiếng cả. Tức thật!, Ờ! thế này thì tức thật!. Tức chết đi được mất. Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn... ”
Từ cái dáng hình đáng sợ: “trông đặc như thằng săng đá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết. Hắn mặc cái quần nái đen với cái áo tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những vét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế, trông gớm chết... Đến cách ăn vạ thật đáng sợ: lấy mảnh chai vỡ mà cào vào mặt, vừa cào vừa lăn lộn. Từ một thằng lưu manh, chế độ phong kiến mà đại diện là Bá Kiến đã hoàn thành nốt quá trình tha hoá để biến Chí thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.
Cùng với những chuỗi ngày dài chìm trong men say là những ngày hẳn đã phá đi biết bao ngôi nhà, làm chảy máu và nước mắt của biết bao người lương thiện. Hắn làm tất cả những việc đó trong khi say, hắn không nhận thức được rằng mình đang trượt dài xuống vực thẳm và người ta đang lảng tránh hắn như lảng tránh một con vật đáng sợ nào đó. Cuộc đời Chí tưởng cứ thế diễn ra, tối tăm, mù mịt. Không ai có thể tin hay nghĩ rằng có thể một lần con quỷ dữ ấy lột xác trở lại thành con người. Vậy mà điều kì diệu đã xảy ra, dù ngẳn ngủi, dù bất thường nhưng vẫn là một điều kì diệu vĩ đại, điều kì diệu có thể thay đổi một con người.
Thị Nở với tình yêu thương của một người đàn bà đã kéo Chí Phèo từ vực sâu của tội lỗi trở lại làm người với khát vọng lương thiện cháy bỏng. Nhiều tướng cướp hoàn lương cũng bởi vì có sự khoan hồng của pháp luật, sự yêu thương của con người trong cộng đồng. Song trong cuộc sống hiện đại ngày nay, còn có những kẻ sống lạnh lùng như một cỗ máy, vô hồn vô cảm, chỉ biết sống cho mình, luôn đố kị ganh ghét, xung đột, cướp đoạt, là mối hiểm họa lớn cho xã hội mà ta cần lên án và bài trừ.
Tình yêu thương là thứ tình cảm tốt đẹp mà con người dành cho nhau. Tình thương là những nét đẹp bình dị, trong sáng của tình người, lòng nhân hậu, sự khoan dung, cao thượng, vị tha và công lí. Đó có thể là tình cảm gia đình, tình bằng hữu, tình yêu lứa đôi, tình người nói chung. Nó có thể là thứ tình cảm vun đắp, xây dựng trong một thời gian dài nhưng cũng có thể chỉ là một niềm thương cảm chực trào dâng khi ta gặp một hoàn cảnh đáng thương nào đó. Yêu thương chính là khi ta cảm thông quan tâm giúp đỡ người có cảnh ngộ bất hạnh, khó khăn trong cuộc sống. Tình yêu thương góp phần xoa dịu nỗi đau, hàn gắn vết thương, xóa bỏ hận thù.
Một xã hội ngập tràn tình yêu thương thì đó là một xã hội bình đẳng, văn minh, bác ái. Khi lòng yêu thương trở thành chuẩn mực của xã hội thì cái ác sẽ bị đẩy lùi, chiến tranh sẽ không còn và lửa hòa bình sẽ ấm áp thắp lên trong mỗi căn nhà bình dị. Nhưng dù với bất cứ biểu hiện nào thì tình yêu thương cũng luôn mang lại những điều kì diệu riêng cho cả người cho đi và nhận về nó. Bên cạnh đó, yêu thương còn là lực hấp dẫn kéo con người ta xích lại gần nhau, tạo thành khối thống nhất, gây dựng những mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người.
Yêu thương đem lại hạnh phúc cho nhân loại, chỉ có yêu thương mới xoa dịu những ngăn cách giàu nghèo, những bất đồng đố kị, làm cho xã hội văn minh tươi đẹp. Vì vậy hãy dành tình thương của mình cho mọi người thật nhiều. Hạnh phúc thật sự chỉ đến khi ta biết mạnh dạn cho đi, hãy đem tình thương của mình gửi đến muôn nơi như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nhắn nhủ: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi”.
Bài tham khảo 5: Bàn luận bất công với phụ nữ trong tác phẩm Thúy Kiều (Nguyễn Du)
Nhà thơ Huy Cận từng viết:
Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử
Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ
Có thể nói, ngày nay, vị trí của người phụ nữ đã được đề cao, tôn vinh. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam hiện diện ở nhiều vị trí trong cuộc đời và đã để lại nhiều hình ảnh bóng sắc trong văn thơ hiện đại. Nhưng thật đáng tiếc thay, trong xã hội cũ người phụ nữ lại phải chịu một số phận đầy bi kịch và đáng thương:
Đau đớn thay thân phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Câu thơ trên đã hơn một lần xuất hiện trong sáng tác của đại thi hào Nguyễn Du giống như một điệp khúc rùng rợn. Chả thế mà chị em miền núi lại than rằng "Thân em chỉ là thân con bọ ngựa, chao chược mà thôi!", còn chị em miền xuôi lại thân mình như con ong cái kiến. Đây không phải là một lời nói quá mà điều này lại được thể hiện khá phổ biến trong văn học Việt Nam, đặc biệt là trong hai tác phẩm "Truyện Kiều" của Nguyễn Du và "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ.
Trong một xã hội phong kiến suy tàn và thối nát lúc bấy giờ, số phận của người phụ nữ thật bé nhỏ, long đong lận đận. Văn học thời ấy cũng đã nhắc nhiều đến kiếp đời của người phụ nữ, mà có lẽ điển hình trong số ấy là nhân vật Vũ Nương trong "Chuyện người con gái Nam Xương".
Tục ngữ có câu "Gái có công thì chồng chẳng phụ" thế nhưng công lao của Vũ Nương chẳng những không được biết đến mà chính nàng còn phải hứng chịu những phũ phàng của số phận. Nàng phải một mình một bóng âm thầm nuôi già dạy trẻ, những nỗi khổ về vật chất đề nặng lên đôi vai mà nàng phải vượt qua hết. Những tưởng khi giặc tan, chồng về, gia đình được sum vầy thì không ngờ giông bão đã ập đến, bóng đen của cơn ghen đã làm cho Trương Sinh lú lẫn, mù quáng. Chỉ nghe một đứa trẻ nói những lời ngây thơ mà anh đã tưởng vợ mình hư hỏng. Trương Sinh chẳng những không tra hỏi mà đánh đập phũ phàng rồi ruồng rẫy đuổi nàng đi, không cho nàng thanh minh. Bị dồn vào bước đường cùng, Vũ Nương phải tìm đến cái chết để kết thúc một kiếp người.
Bên cạnh Vũ Nương, một hình ảnh nổi bật nữa là nhân vật Thuý Kiều của Nguyễn Du. Thật hiếm có người phụ nữ nào trong văn học có một số phận "đoạn trường" như Vương Thuý Kiều trong “Truyện Kiều”. Ngay từ đầu tác phẩm, nhận định của tác giả "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen" đã dự báo cho điều đau đớn này. Thuý Kiều mang một vẻ đẹp đằm thắm, mảnh mai là thế, tài sắc lại vẹn toàn hiếu nghĩa, đáng ra nàng phải được sống hạnh phúc, êm ấm, vậy mà do một biến cố trong gia đình nên đã bị bán đi với cái giá ngoài bốn trăm lạng vàng. Bất hạnh này mở đầu cho hàng loạt bất hạnh khác mãi cho tới khi nàng tìm tới sông Tiền Đường để tự vẫn. Dẫu biết kết chuyện Thúy Kiều được về sum họp với gia đình nhưng cả một kiếp người trôi nỗi truân chuyên ấy đã vùi dập cả một trang sắc nước hương tài. Độc giả đã khóc cho bao lần chia phôi vĩnh viễn, những tháng ngày sống không bằng chết trong lầu Ngưng Bích, những nỗi tủi nhục vò xé thân mình của Thuý Kiều. Số phận bi đát ấy của người con gái đã khiến muôn đời sau phải thốt lên "Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều".
Có lẽ bi kịch của Vũ Nương và Thúy Kiều không phải là trường hợp cá biệt mà là số phận của bao người phụ nữ, là kết quả của bao nhiêu nguyên nhân mà chế độ phong kiến đã sản sinh ra làm số phận của họ thật bi đát. Từ những kiếp đời bạc mệnh ấy, Nguyễn Dữ và Nguyễn Du đã góp phần khái quát lên thành lời chung, thành kiếp đau khổ chung của người phụ nữ, mà từ xa xưa số phận ấy cũng đã được thể hiện trong lời ca dao:
Thân em như hạt mưa sa
Hạt rơi xuống giếng, hạt ra đồng ngoài.
Đó không chỉ là tiếng kêu thương mà còn là lời tố cáo, vạch trần thực trạng xã hội đen tối, thế lực và tiền bạc lộng hành. Đồng thời cũng gián tiếp lên án thế lực phong kiến đã đẩy con người vào tình cảnh đau đớn. Với chế độ Nam quyền: “Trọng nam khinh nữ”, người phụ nữ đã bị tước đoạt mọi quyền lợi chính đáng, nhân phẩm họ bị dấu dúm. Họ bị ràng buộc bởi những lễ giáo phong kiến khắc nghiệt như đạo “tam tòng”, hay các quan niệm lạc hậu như "nữ nhân ngoại tộc". Số phận của người phụ nữ hoàn toàn bị phụ thuộc, chà đạp, thậm chí còn bị coi như món hàng. Tàn dư ấy của chế độ cũ vẫn còn rơi rớt cho đến ngày nay, trên nạn bạo hành đối với phụ nữ vẫn còn khá phổ biến. Nhất là ở nông thôn.
Phải chăng vì thế mà người xưa vẫn nói "Hồng nhan thì bạc phận" nhưng những lễ giáo khắc nghiệt, lạc hậu cũng đã lùi vào dĩ vãng. Người phụ nữ giờ đây đã được quyền bình đẳng, nhất là quyền tự do trong hôn nhân và quyền quyết định số phận của mình. Những hành vi xúc phạm nhân phẩm của người phụ nữ chắc chắn sẽ đều bị trừng trị một cách nghiêm khắc. Tuy ra đời cách đây gần hai thế kỉ nhưng những tác phẩm tâm huyết trên vẫn gây xúc động sâu xa, nhức nhối trong lòng người đọc. Với nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã xây dựng được một hình tượng rất đẹp, rất có ý nghĩa về người phụ nữ. Bởi trong tác phẩm Vũ Nương chỉ là một người phụ nữ bình thường như bao người phụ nữ khác, hơn nữa nàng lại xuất thân kẻ khó vậy mà lại trở thành nhân vật trung tâm, nhân vật thẩm mĩ, nhân vật lý tưởng. Còn riêng “Truyện Kiều” lại mang một cảm hứng nhân đạo rõ rệt - đây chính là sự kết tinh sức sống và tinh thần dân tộc Việt Nam. Chính cảm hứng này là kết tinh giá trị ưu tú nhất trong “Truyện Kiều”. Có được điều ấy không phải là do cái tài của Nguyễn Du mà là do tấm lòng yêu thương con người của Nguyễn Du.
Viết “Chuyện người con gái Nam Xương” và “Truyện Kiều”, Nguyễn Dữ cùng với Nguyễn Du đã góp một tiếng nói xúc động vào sự nghiệp giải phóng người phụ nữ.
Bài tham khảo 6: Bàn luận về phẩm chất làm người trong tác phẩm Chữ người tử từ (Nguyễn Tuân)
Nguyễn Tuân nổi tiếng là một nhà văn tài hoa, giàu cá tính. Ông đã niệm và theo đuổi suốt đời quan niệm "...mà thầy rằng yêu đẹp có nghĩa là quyết tâm bảo vệ đến cùng những gì mình đã nhận là đẹp". Và trong rất nhiều cái đẹp mà ông cảm khái, theo đuổi ấy ta thấy có cái đẹp ngời sáng giữa cảnh lao tù tăm tối, cái đẹp của lụa trắng tinh bay những nét mực, cái đẹp từ sâu thẳm lòng người. Cái đẹp toát ra từ người tử tù Huấn Cao và Chữ người tử tù.
Trong tác phẩm, Huấn Cao là một con người tự trọng, sống hiên ngang bất khuất, không có sức mạnh quyền thế, bạc vàng có thể khuất phục ông. Những con người chọc trời khuấy nước, đếm trên đầu ngón tay, người ta cũng chẳng còn biết nữa... Một con người khẳng khái như vậy còn sợ gì cường quyền hay tham gì tiền bạc?
Là người chọc trời khuấy nước, riêng một giang sơn không chịu được triều đình phong kiến ngày càng suy thoái, mục rỗng, Huấn Cao chống lại triều đình ấy. Bị gọi là giặc nhưng là vì nghĩa lớn, vì lí tưởng lớn nên điều đó có hề gì. Đến khi bị bắt giam, sắp lên đoạn đầu đài vẫn coi thường: Đến cái chết cũng chẳng sợ nữa.... Huấn Cao có những suy nghĩ, hành vi thật phóng khoáng ông vẫn thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong hứng bình sinh, dù đang bị cầm tù.
Dưới con mắt Huấn Cao, bọn cầm quyền chỉ là một lũ tiểu nhân thị oai, nên ông luôn tỏ ra khinh bỉ chúng, dù ở giữa cảnh tàn nhẫn, lừa lọc giữa một đống cặn bã. Sau khi viên quản ngục khép nép hỏi ông có cần gì nữa không, ông trả lời như tát vào đối phương: Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ cần một điều, là ngươi đừng đặt chân vào đây". Đó là cái khí phách, cái tư thế hiên ngang lồng lộng dù khi đang giữa cái nền xám xịt của ngục tù.
Là con người chọc trời khuấy nước, hiên ngang bất khuất, không sợ bất cứ cái gì nhưng Huấn Cao lại trọng cái bản chất tốt đẹp của con người. Trong phần người sâu thẳm mà đôi khi vì hoàn cảnh, người ta phải giấu kín, việc ông cho chữ và lời khuyên bảo cuối cùng đối với viên quản ngục thể hiện cái tâm của Huấn Cao. Lời ấy là tiếng lòng, là tâm huyết của ông: "Tôi bảo thực đấy, thầy quản nên tìm về nhà quê mà ở đã... ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi". Ông yêu cái đẹp và cảm thông với người biết yêu cái đẹp. Huấn Cao hiểu được tấm lòng quản ngục thì sẵn sàng cho chữ, bởi ông cảm là cảm cái bản chất thiên lương.
Huấn Cao là người tài hoa rất mực, bên cạnh cầm kì, thi, họa, ông còn có tài viết đẹp, chữ của ông nức cả một vùng, chữ ông đẹp lắm, vuông lắm. Cái tài hoa ấy chỉ dành riêng cho người tri kỉ: Ồng biết cái tài của mình và không vì nó mà ai ông cũng sẵn sàng cho: "Đời ra cũng mới viết có bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn của ta thôi". Và lần cho chữ cuối cùng của đời ông là một ngoại lệ, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có đã xảy ra bởi vì cảm với tấm lòng, cho chữ có thể nói là một đoạn rất hay thể hiện tài năng của Nguyễn Tuân miêu tả, dựng cảnh và thể hiện tài năng của nhân vật Huấn Cao.
Cái cao đẹp đối lập với dơ bẩn. Chơi chữ đẹp, viết chữ đẹp là một nét đẹp cao, trang trọng thường diễn ra trong cảnh thanh khiết của thiên nhiên và người. Song ở đây là cả một sự đối lập. Tuy nhiên, đối lập mà không có gì mâu thuẫn cả. Lấn át tất cả cái dơ dáy hôi hám của tù ngục, ánh sáng của đuốc, mùi thơm của mực, màu trắng của lụa, đã tỏa sáng lung linh. Tất cả thể hiện nghĩa sâu sắc: cái đẹp có thể sản sinh từ nơi tội ác ngự trị, giữa mảnh đất chết bởi một người cũng sắp chết (một tử tù). Lời khuyên của Huấn Cao cho cái đẹp không thể còng sống với cái ác được.
Nhân vật Huấn Cao như nhiều nhân vật chính diện khác trong Vang bóng một thời nhất thiết là con người tài hoa. Ở Huấn Cao, bên cạnh tài hoa, có vẻ khí phách của một người có trách nhiệm đối với thời cuộc. Đó là nét độc của Huấn Cao so với nhân vật khác trong Vang bóng một thời.
Ngôn ngữ văn xuôi điêu luyện, nghệ thuật miêu tả tinh nhạy của Nguyễn Tuân đã toát lên không khí một thời đã qua. Nhân vật Huấn Cao, con người khí phách tài hoa có trách nhiệm cao đối với đất nước. Nó cũng là sự giải bày nỗi khát khao theo đuổi một lí tưởng cao cả của người thanh niên Nguyễn Tuân khi bước chân vào đời.
Bài tham khảo 7: Bàn luận bất công với phụ nữ trong tác phẩm Thúy Kiều (Nguyễn Du)
Trong văn học trung đại đã có nhiều tác giả viết về đề tài người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Ví như Nguyễn Dữ với tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” đã khắc hoạ nhân vật Vũ Nương và Truyện Kiều của Nguyễn Du với Thúy Kiều - đại diện cho hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến với những phẩm chất tốt đẹp nhưng lại gặp nhiều đau khổ
Vũ Nương là một người phụ nữ xuất thân bình dân, có “tư dung tốt đẹp”. Nàng được Trương Sinh con trai nhà hào phú trong làng “mang trăm lạng vàng” cưới về làm vợ. Nhưng chính sự không bình đẳng trong quan hệ gia đình, đồng tiền đã phát huy “sức mạnh” của nó khiến cho Vũ Nương luôn sống trong mặc cảm “con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu”. Biết chồng bản tính đa nghi, nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng có mối thất hoà. Cuộc sum vầy chưa được bao lâu, Trương Sinh bị bắt đi lính. Khi tiễn chồng ra trận, nàng rót chén rượu đầy và nói những lời dặn dò đượm tình thuỷ chung: “Thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ…”. Điều ước ao lớn nhất của nàng không phải là danh vọng, tiền bạc mà là một cuộc sống gia đình đầm ấm yên vui. Trong những ngày tháng chồng đi xa, một mình nàng phải chèo lái con thuyền gia đình. Nàng chăm sóc, thuốc thang cho mẹ chồng đau ốm, bệnh tật như đối với cha mẹ đẻ. Sự hiếu thảo của nàng khiến bà hết sức cảm động, trước khi qua đời bà đã nhắn nhủ: “Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống nòi tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Không chỉ vậy nàng còn phải chăm lo cho đứa con thơ vừa lọt lòng. Vì thương con, lo cho con thiếu thốn hình bóng người cha và cũng để nàng gửi gắm nỗi nhớ thương, mong mỏi chồng, Vũ Nương đã nghĩ ra trò cái bóng. Đêm đêm, nàng chỉ vào cái bóng của mình trên tường và nói với đứa con nhổ rằng đó là cha nó. Xã hội phong kiến trong buổi suy tàn khiến con người luôn cảm thấy bất an: chỉ một trò đùa, một vật vô tri, vô giác như cái bóng cũng khiến hạnh phúc gia đình tan vỡ. Qua năm sau, việc quân kết thúc, Trương Sinh về tới nhà. Nghe lời của đứa con, chàng chẳng thèm suy nghĩ dù đó là lời nói của một đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ và quá mập mờ. Trương Sinh mắng nhiếc vợ rồi đánh đuổi nàng đi, không cho nàng giải thích. Nàng thật sự thất vọng. Hạnh phúc gia đình đã tan vỡ. Tình yêu, lòng tin không còn. Thất vọng đến tột cùng, chán chường vô hạn, nàng đã tìm đến cái chết để thanh minh cho bản thân. Niềm tin vào cuộc sống đã mất khiến cho Vũ Nương không thể trở về với cuộc sống trần gian dù điều kiện có thể.
Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến cũng đều giống như Vũ Nương. Số phận của họ như đã được định đoạt từ trước. Sinh ra mang kiếp đàn bà thì dù giàu nghèo sang hèn không trừ một ai, lời “bạc mệnh” cũng đã trở thành “lời chung” - như Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều:
Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Và đến Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” - tiếng kêu thương thống thiết, ai oán, não nùng của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Số phận của nàng còn lênh đênh hơn Vũ Nương rất nhiều. Lần này, dưới chế độ đồng tiền hôi tanh đen bạc. Nó đã tạo ra mười lăm năm đau đớn phiêu bạt của nàng Kiều xinh đẹp. Chỉ vì tiền mà bọn sai nha đã gây nên cảnh tan tác, chia lìa của gia đình Kiều. Để có tiền cứu cha và em trai của mình, nàng đã quyết định bán thân cho Mã Giám Sinh - một tên gian ác buôn thịt bán người. Và Kiều bỗng trở thành một món hàng để cho hắn cân đong, đo đếm, cò kè, ngã giá... Và từ tay Mã Giám Sinh đểu cáng thì Kiều đã rơi vào tay Tú Bà, mụ chủ nổi tiếng của thanh lâu. Là một người con gái xinh đẹp, tài năng, và đã sinh trưởng trong một gia đình trung lưu, lương thiện gia giáo, dòng dõi cao quý, nên Thúy Kiều không thể chấp nhận trở thành gái lầu xanh. Nàng cay đắng chịu đựng những trận đòn tàn khốc của Tú Bà, nàng đã đi tìm cái chết nhưng không được vì bị Tú bà bắt gặp. Tú Bà đã bày muốn thuê Sở Khanh lừa nàng, buộc nàng trở thành một cô gái lầu xanh thực thụ. Thế là nàng đau đớn, cay đắng cam chịu số phận dấn thân vào cuộc sống ô nhục. Đau đớn thay! Từ một cô gái trong trắng, đức hạnh, nàng đã trở thành một món đồ chơi thú vị cho bọn khách chơi. Số phận trái ngang của Kiều không chỉ dừng lại ở đây mà số phận của nàng còn lênh đênh, bèo dạt, mây trôi và lưu lạc mười lăm năm trời, đã chịu bao nhiêu tai họa giáng xuống đầu.
Họ là nạn nhân của chế độ phong kiến với những điều luật hà khắc, bất công với nữ nhi. Ở đó sinh mạng người phụ nữ không được coi trọng, họ bị mua bán, trả giá một cách công khai. Ở cái xã hội ấy, họ chỉ như một thứ đồ vật vô tri, không được có ý kiến hay thanh minh cho bản thân. Trong ca dao cũng nhắc đến người phụ nữ với sự đau khổ tương tự :
Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.
Dù ca dao có xuất xứ từ nhân dân lao động, nhưng nó vẫn phản ánh đúng số phận của người phụ nữ - “những hạt mưa sa”. “Hạt mưa ấy” không biết mình sẽ rơi vào đâu: một nơi “đài các” hay ra “ruộng cày” ? Dù đó là đâu, dù muốn hay không họ cũng phải chấp nhận.
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng là một người phụ nữ phong kiến, bà cũng hiểu số phận của mình sẽ bị xã hội đưa đẩy như thế nào. Bà đã viết:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Bà không cam chịu sống cuộc sống bất công như vậy. Bà đã khẳng định người phụ nữ phải có một vị trí khác trong xã hội. Nhưng sự cố gắng của bà chỉ như một tia sáng hiếm hoi trong chuỗi đời u tối của người phụ nữ. Xét cho cùng, những đau khổ ấy đến với họ cũng là do họ sống quá cam chịu, quá dễ dàng thỏa hiệp. Nếu như họ biết đấu tranh tới cùng, nếu như họ không chọn cái chết để thanh minh thì những bất công ấy sẽ không có điều kiện phát triển.
Chúng ta đều xót thương và cảm thông cho số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Là một con người sống trong thời đại mới, ta thật hạnh phúc khi không phải bó buộc vào những luật lệ, lề thói xấu ấy.