Hiện tượng được nêu trong văn bản liên quan gì đến Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung? Dẫn ra một số ví dụ trong văn bản cho thấy tác động của hiện tượng này.
Nội dung chi tiết
VĂN MẪU BÀI 3: VĂN BẢN THÔNG TIN
Đề tài: Hiện tượng được nêu trong văn bản liên quan gì đến Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung? Dẫn ra một số ví dụ trong văn bản cho thấy tác động của hiện tượng này.
Bài tham khảo 1:
Các số liệu quan trắc tại các trạm hải văn ven biển Việt Nam từ 1993-2010 cho thấy mực nước trung bình ở Biển Đông tăng khoảng 4,7 mm/năm, riêng Việt Nam tăng trung bình 2,8 mm/năm. Các dự báo gần đây cũng khẳng định mực nước biển của Việt Nam có thể tăng 33,3 cm vào 2050, 45 cm vào 2070 và khoảng 1 m vào 2100. Nếu kịch bản này xảy ra, nhiều khu vực đất liền ven biển và vùng đất trũng sẽ bị chìm trong nước, thậm chí có khu vực bị ngập sâu vĩnh viễn. Nước biển dâng sẽ làm thu hẹp diện tích đất đai, nhiễm mặn nguồn nước ngọt, ảnh hưởng nông nghiệp và đe dọa cuộc sống người dân, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đây là thách thức lớn đối với toàn cầu và Việt Nam, đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức cần có hành động cụ thể để bảo vệ "hòn đảo chung" của chúng ta là Trái Đất.
Bài tham khảo 2:
Các số liệu quan trắc tại các trạm hải văn ven biển nước ta từ 1993 đến 2010 cho thấy, mực nước trung bình ở Biển Đông tăng khoảng 4,7 mm/năm; trong đó, riêng Việt Nam có mức tăng trung bình khoảng 2,8 mm/năm. Gần đây, các dự báo cũng đều khẳng định, mực nước biển của nước ta có thể tăng thêm 33,3 cm vào năm 2050, 45 cm vào năm 2070 và khoảng 1 m vào năm 2100. Nếu kịch bản này diễn ra, nhiều khu vực đất liền ven biển và vùng đất trũng sẽ bị chìm trong nước; thậm chí, có khu vực sẽ bị ngập sâu vĩnh viễn. Ví dụ, nếu nước biển dâng cao 1 m thì 4,4% lãnh thổ Việt Nam bị ngập vĩnh viễn, 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp. Các khu vực bị ngập nặng gồm: đồng bằng sông Hồng (17,57%), các tỉnh ven biển miền Trung (từ Thanh Hóa đến Bình Thuận) (1,47%), Thành phố Hồ Chí Minh (17,84%) và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (4,79%). Đặc biệt, đồng bằng sông Cửu Long sẽ là khu vực có nguy cơ ngập cao nhất (khoảng 39,40% diện tích), trong đó tỉnh Kiên Giang có thể ngập đến 75% diện tích. Các đảo có nguy cơ ngập cao nhất là: Vân Đồn, Côn Đảo và Phú Quốc. Đây là thách thức rất lớn đối với toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng, bởi mực nước biển dâng không chỉ làm thu hẹp diện tích đất đai, mà còn làm nhiễm mặn nguồn nước ngọt, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp và cuộc sống người dân. Khu vực chịu tác động lớn nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, dự báo vào năm 2030 khoảng 45% diện tích sẽ bị nhiễm mặn, gây thiệt hại nặng nề cho nông nghiệp và cấp nước. Khu vực vùng núi cũng chịu ảnh hưởng gián tiếp như an ninh lương thực, nước sạch và gia tăng lũ lụt. Hệ lụy của nước biển dâng còn ảnh hưởng xấu đến các lĩnh vực khác như thủy sản, du lịch và môi trường sinh thái. Điều này đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức trên toàn thế giới và ở Việt Nam cần có những hành động cụ thể để "cứu lấy mái nhà chung" - Trái Đất, như lời kêu gọi của cựu Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban-ki-moon.
Bài tham khảo 3:
Theo số liệu quan trắc tại các trạm hải văn ven biển Việt Nam từ 1993-2010, mực nước trung bình ở Biển Đông đã tăng khoảng 4,7 mm/năm, trong đó riêng Việt Nam tăng trung bình 2,8 mm/năm. Các dự báo gần đây cũng chỉ ra rằng, mực nước biển của Việt Nam có thể tăng thêm 33,3 cm vào năm 2050, 45 cm vào năm 2070 và khoảng 1 m vào năm 2100. Nếu kịch bản này xảy ra, nhiều khu vực đất liền ven biển và vùng đất trũng sẽ bị chìm trong nước, thậm chí có những khu vực bị ngập sâu vĩnh viễn. Ví dụ, nếu nước biển dâng cao 1 m, 4,4% lãnh thổ Việt Nam sẽ bị ngập vĩnh viễn và 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp. Các khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất lần lượt là: đồng bằng sông Hồng (17,57%), các tỉnh ven biển miền Trung (1,47%), TP. Hồ Chí Minh (17,84%) và Bà Rịa - Vũng Tàu (4,79%). Đặc biệt, đồng bằng sông Cửu Long được dự báo là khu vực có nguy cơ ngập cao nhất, lên đến 39,40% diện tích, trong đó tỉnh Kiên Giang có thể bị ngập đến 75% diện tích. Các đảo như Vân Đồn, Côn Đảo và Phú Quốc cũng có nguy cơ ngập cao.
Bài tham khảo 4:
Số liệu quan trắc tại các trạm hải văn ven biển Việt Nam từ 1993-2010 cho thấy, mực nước trung bình ở Biển Đông đã tăng khoảng 4,7 mm/năm, trong đó riêng Việt Nam tăng trung bình 2,8 mm/năm. Các dự báo gần đây cũng khẳng định, mực nước biển của Việt Nam có thể tăng thêm 33,3 cm vào năm 2050, 45 cm vào năm 2070 và khoảng 1 m vào năm 2100. Nếu kịch bản này xảy ra, nhiều khu vực đất liền ven biển và vùng đất trũng sẽ bị chìm trong nước, thậm chí có những khu vực bị ngập sâu vĩnh viễn. Ví dụ, nếu nước biển dâng cao 1 m, 4,4% lãnh thổ Việt Nam sẽ bị ngập vĩnh viễn và 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp. Các khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất lần lượt là: đồng bằng sông Hồng (17,57%), các tỉnh ven biển miền Trung (1,47%), TP. Hồ Chí Minh (17,84%) và Bà Rịa - Vũng Tàu (4,79%). Đáng chú ý, đồng bằng sông Cửu Long được dự báo là khu vực có nguy cơ ngập cao nhất, lên đến 39,40% diện tích, trong đó tỉnh Kiên Giang có thể bị ngập đến 75% diện tích. Các đảo như Vân Đồn, Côn Đảo và Phú Quốc cũng nằm trong nhóm có nguy cơ ngập cao.
Bài tham khảo 5:
Các số liệu quan trắc tại các trạm hải văn ven biển nước ta giai đoạn 1993 - 2010 cho thấy, mực nước trung bình ở Biển Đông tăng khoảng 4,7 mm/năm; trong đó, riêng Việt Nam có mức tăng trung bình khoảng 2,8 mm/năm. Gần đây, các dự báo cũng đều khẳng định, mực nước biển của nước ta có thể tăng thêm 33,3 cm vào năm 2050, 45 cm vào năm 2070 và khoảng 01 m vào năm 2100. Nếu kịch bản này diễn ra, nhiều khu vực đất liền ven biển và vùng đất trũng sẽ bị chìm trong nước; thậm chí, có khu vực sẽ bị ngập sâu vĩnh viễn. Ví dụ, nếu nước biển dâng cao 01 m thì 4,4% lãnh thổ Việt Nam bị ngập vĩnh viễn, 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và tỷ lệ các khu vực bị ngập nặng theo thứ tự là, đồng bằng sông Hồng: 17,57%, các tỉnh ven biển miền Trung (từ Thanh Hóa đến Bình Thuận): 1,47%, Thành phố Hồ Chí Minh: 17,84% và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là 4,79%. Đặc biệt, đồng bằng sông Cửu Long sẽ là khu vực có nguy cơ ngập cao nhất (khoảng 39,40% diện tích); trong đó, tỉnh Kiên Giang có thể ngập đến 75% diện tích. Các đảo có nguy cơ ngập cao nhất là: Vân Đồn, Côn Đảo và Phú Quốc. Đây là thách thức rất lớn đối với toàn cầu nói chung, Việt Nam nói riêng, bởi mực nước biển dâng không những làm diện tích đất đai bị thu hẹp, mà còn làm nhiễm mặn một số nguồn nước ngọt, tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp, đe dọa đến cuộc sống nhân dân. Khu vực ảnh hưởng lớn nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long. Theo đó, dự báo vào năm 2030, khoảng 45% diện tích của khu vực này sẽ bị nhiễm mặn cục bộ và gây thiệt hại nặng nề cho ngành trồng trọt (khoảng 17 tỷ USD) cũng như hệ thống cấp nước ở các vùng trũng của Nam Bộ. Khu vực vùng núi, tuy không chịu tác động trực tiếp của nước biển dâng nhưng cũng chịu ảnh hưởng gián tiếp, như: vấn đề an ninh lương thực, nước sạch và đất ở, gia tăng các hiện tượng lũ ống, lũ quét, v.v. Đồng thời, hệ lụy của nước biển dâng còn ảnh hưởng xấu đến các lĩnh vực tiềm tàng, như: thủy sản, du lịch và môi trường sinh thái, v.v. Điều đó đòi hỏi mỗi con người, mỗi tổ chức trên khắp thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng, cần có những hành động cụ thể để “cứu lấy mái nhà chung”, như lời kêu gọi của cựu Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban-ki-moon khi phát biểu tại Lễ khai mạc Năm Quốc tế các tiểu quốc đảo đang phát triển năm 2014: “Trái Đất chính là hòn đảo chung của tất cả chúng ta, vì vậy hãy cùng nhau bảo vệ trái đất”.
Bài tham khảo 6:
Hiện tượng nước biển dâng được nêu trong văn bản sẽ gây ra những tác động lớn, không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với toàn thế giới. Nước biển dâng sẽ làm ngập lụt các đồng bằng và xóa sổ nhiều vùng đất ngập nước. Nó cũng sẽ làm biến mất hoặc xói mòn các bãi biển, cồn cát, đảo chắn và các khu vực vịnh, cửa sông ven biển. Ngoài ra, nước biển dâng sẽ làm tăng nguy cơ tác động của các cơn bão và triều cường, khi nước biển dễ dàng xâm nhập vào đất liền. Cụ thể, nếu đến năm 2100 mực nước biển dâng 1 m, 6,3% diện tích đất của Việt Nam sẽ bị ngập lụt. Các hệ thống cơ sở hạ tầng như đường sắt, đường quốc lộ và đường tỉnh lộ cũng sẽ bị ảnh hưởng lần lượt 4%, 9% và 12%. Các khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề bao gồm trên 10% diện tích Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích các tỉnh ven biển miền Trung, và trên 20% diện tích TP. Hồ Chí Minh. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến trên 9% dân số Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung, và khoảng 7% dân số TP. Hồ Chí Minh. Đây là những tác động nghiêm trọng, đòi hỏi sự chung tay của toàn thế giới, không chỉ riêng Việt Nam, để ứng phó và giải quyết hậu quả của nước biển dâng.
Bài tham khảo 7:
Hiện tượng nước biển dâng được nêu trong văn bản sẽ gây ra những tác động lớn, không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với toàn thế giới. Nước biển dâng sẽ làm úng ngập các đồng bằng và xóa sổ nhiều vùng đất ngập nước. Nó cũng sẽ làm dần biến mất hoặc xói mòn các bãi biển, cồn cát, đảo chắn và các khu vực vịnh, cửa sông ven biển. Ngoài ra, nước biển dâng sẽ làm tăng nguy cơ tác động của các cơn bão và triều cường, khi nước biển dễ dàng xâm nhập vào đất liền. Theo Văn phòng thường trực, Ban Chỉ đạo Quốc gia về phòng, chống thiên tai, từ đầu năm 2021 đến nay, Việt Nam đã xảy ra 8 cơn bão, 3 áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông, 109 trận động đất nhẹ, 316 trận mưa đá, dông lốc, sét; 140 trận mưa lớn, lũ cục bộ, trong đó 9 trận lũ ống, lũ quét, 157 vụ sạt lở bờ sông, 7 đợt nắng nóng và 6 đợt không khí lạnh, gió mùa đông bắc. Ước tính giá trị thiệt hại khoảng 1.428 tỷ đồng. Thống kê gần đây cũng cho thấy trong 10 năm trở lại đây, đã có 1,7 triệu người di cư ra khỏi Đồng bằng sông Cửu Long, trong khi chỉ có 700.000 người mới chuyển đến, tỷ lệ di cư này gấp đôi trung bình cả nước. Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung, hạn hán tiếp tục tái diễn trong năm 2019-2020 với quy mô lớn và mức độ khốc liệt hơn so với đợt hạn hán, xâm nhập mặn năm 2016. Trong năm 2020, nguồn nước trên các sông, suối khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên suy giảm và thiếu hụt so với trung bình nhiều năm cùng kỳ từ 35% đến 70%, một số sông thiếu hụt trên 80%.
Bài tham khảo 8:
Hiện tượng nước biển dâng được nêu trong văn bản sẽ gây ra những tác động lớn, không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với toàn thế giới. Nước biển dâng sẽ làm úng ngập các đồng bằng và xóa sổ nhiều vùng đất ngập nước. Nó cũng sẽ làm dần biến mất hoặc xói mòn các bãi biển, cồn cát, đảo chắn và các khu vực vịnh, cửa sông ven biển. Ngoài ra, nước biển dâng sẽ làm tăng nguy cơ tác động của các cơn bão và triều cường, khi nước biển dễ dàng xâm nhập vào đất liền. Theo báo cáo của Văn phòng thường trực, Ban Chỉ đạo Quốc gia về phòng, chống thiên tai, từ đầu năm 2021 đến nay, Việt Nam đã xảy ra nhiều thiên tai nghiêm trọng như bão, áp thấp nhiệt đới, động đất, mưa đá, lũ lụt, sạt lở đất... Ước tính thiệt hại khoảng 1.428 tỷ đồng. Thống kê gần đây cũng cho thấy trong 10 năm qua, đã có 1,7 triệu người di cư ra khỏi Đồng bằng sông Cửu Long, trong khi chỉ có 700.000 người mới chuyển đến, tỷ lệ di cư này gấp đôi trung bình cả nước. Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung cũng liên tục chịu ảnh hưởng nặng nề của hạn hán và xâm nhập mặn.
Bài tham khảo 9:
Hiện tượng được nêu trong văn bản liên quan lớn đến Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung: Nước biển dâng sẽ làm úng ngập các đồng bằng và xóa sổ nhiều vùng đất ngập nước. Nước biển dâng cũng làm dần biến mất hoặc xói mòn các bãi biển, cồn cát, đảo chắn và các khu vực vịnh, cửa sông ven biển. Nước biển dâng sẽ làm tăng nguy cơ tác động của các cơn bão và của triều cường, khi nước biển dễ dàng xâm nhập vào đất liền.
Theo Văn phòng thường trực, Ban Chỉ đạo Quốc gia về phòng, chống thiên tai, từ đầu năm 2021 đến nay, Việt Nam đã xảy ra 8 cơn bão, 3 áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông, 109 trận động đất nhẹ, 316 trận mưa đá, dông lốc, sét; 140 trận mưa lớn, lũ cục bộ, trong đó 9 trận lũ ống, lũ quét, 157 vụ sạt lở bờ sông, 7 đợt nắng nóng và 6 đợt không khí lạnh, gió mùa đông bắc. Ước tính giá trị thiệt hại khoảng 1.428 tỷ đồng…Thống kê gần đây cho thấy trong 10 năm trở lại đây, đã có 1,7 triệu người đã di cư ra khỏi Đồng bằng sông Cửu Long, trong khi chỉ có 700.000 người mới chuyển đến, tỷ lệ di cư này là gấp hai lần trung bình cả nước. Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung, hạn hán lại tiếp tục tái diễn trong năm 2019-2020 với quy mô lớn và mức độ khốc liệt hơn so với đợt hạn hán, xâm nhập mặn năm 2016. Trong năm 2020, nguồn nước trên các sông, suối khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên suy giảm và thiếu hụt so với trung bình nhiều năm cùng kỳ từ 35% đến 70%, một số sông thiếu hụt trên 80%.