Chi tiết hoặc hình ảnh nào trong văn bản “Người thầy đầu tiên” đã để lại trong em những ấn tượng sâu đậm ? Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 - 10 dòng) ghi lại ấn tượng ấy.
Nội dung chi tiết
Đề tài: Chi tiết hoặc hình ảnh nào trong văn bản “Người thầy đầu tiên” đã để lại trong em những ấn tượng sâu đậm ? Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 - 10 dòng) ghi lại ấn tượng ấy.
Bài tham khảo 1:
Đặc biệt, thầy Đuy-sen hiện lên qua cảm nhận của nhân vật An-tư-nai. Mồ côi cha mẹ, An-tư-nai phải sống với chú thím, bị thiếu thốn cả về vật chất lẫn tình cảm. Thầy Đuy-sen đã giúp đỡ để An-tư-nai có thể đi học. Trong kí ức của An-tư-nai, thầy Đuy-sen là một người có tấm lòng nhân hậu, bao dung và giàu tình yêu thương. Thầy đã an ủi khi biết được hoàn cảnh của An-tư-nai: “An-tư-nai, cái tên hay quá, mà em thì chắc là ngoan lắm phải không?”. Khi An-tư-nai bị ngã ở suối, thầy đã đỡ cô bé lên lên bờ, lót chiếc áo choàng cho cô bé ngồi, còn mình thì vẫn tiếp tục công việc. Cũng nhờ có thầy Đuy-sen mà An-tư-nai đã cố gắng học hành và trở thành một viện sĩ. Thầy Đuy-sen còn trở thành tấm gương cho học trò về cách sống lạc quan, tự trọng. Trước hành động của bọn nhà giàu sống trên núi, thầy Đuy-sen không hề tỏ ra tức giận, mà thầy lại “nghĩ ra một câu chuyện vui nào đó khiến lũ chúng tôi phá lên cười, quên mất mọi sự”. Thầy tìm cách để thấu hiểu, giúp đỡ học sinh nhiều hơn. Có thể thấy, tất cả những lời nói, hành động đã minh chứng cho tấm lòng nhân hậu, trái tim cao cả của thầy Đuy-sen.
Bài tham khảo 2:
Trước khi đi lấy rạ khô, thầy đã thăm hỏi, chia sẻ tâm tư và mời mọc ân cần khi tiễn các em nhỏ ra về. Hành động hiền lành và ấm áp này đã khiến các em nhỏ yêu mến và gắn bó với thầy cùng ngôi trường nhỏ ở làng quê thân yêu. Hơn 30 năm sau, dù đã thành công, tâm hồn An-tư-nai vẫn nghe tiếng nói nhỏ nhẹ của Đuy-sen và nhớ đến những lời dạy dỗ từ người thầy yêu thương kia. Đuy-sen không chỉ là người thầy đầu tiên mở đầu cho An-tư-nai mà còn là người đã truyền cảm hứng, khơi dậy ngọn lửa học hỏi và khát khao trong lòng các em. Hình ảnh của Đuy-sen là một bức tranh tươi đẹp về một người thầy thành đạt, nhân hậu và yêu thương tuổi thơ. Trên con đường tuổi trẻ, học hành và trưởng thành, mỗi người sẽ gặp gỡ và được hướng dẫn bởi nhiều thầy cô. Như An-tư-nai vậy, trong lòng mỗi người luôn chiếu sáng bởi những hình ảnh tuyệt vời của các người thầy, như Đuy-sen, người đã truyền cho chúng ta niềm đam mê và khao khát học hỏi.
Bài tham khảo 3:
Đây là đoạn văn hay nhất, cảm động nhất. Mặt trời được nhân hoá, mặt trời là biểu tượng. Chất thơ, chất trữ tình không chỉ ở ngôn ngữ mà nó còn thấm sâu vào hồn người! Thiên nhiên như đang chia sẻ niềm vui với con người: “Mặt trời đã xế bóng ngang các sườn đồi, nhưng tôi cảm thấy hình như còn chần chừ không muốn lặn, còn muốn nhìn tôi. Ánh mặt trời tô điểm con đường tôi đi: mặt đất rắn mùa thu trải ra dưới, chân tôi nhuộm thành màu đỏ, màu hồng, màu tím. Từng cụm bông lau khô vun vút bay hai bên như những tia lửa lập loè. Mặt trời dọi lửa lên những chiếc cúc mạ bạc trên tấm áo đầy mụn vá tôi mặc”. Hình tượng “mặt trời” ở đây còn mang ý nghĩa như một biểu tượng nhằm ca ngợi ánh sáng Cách mạng tháng Mười đã chiếu rọi toả sáng vùng núi rừng lạc hậu Cư-gơ-rư-xtan, đem đến sự thức tỉnh và đổi đời trong lòng nhân dân các dân tộc mà An-tư-nai là một điển hình cảm động.
Bài tham khảo 4:
An-tư-nai – cô học trò bé nhỏ đáng thương và đáng yêu vô cùng. Mồ côi mẹ, ở với chú thím, cô phải làm quần quật suốt ngày. Ăn mặc tồi tàn, rách rưới “gấu váy thủng hở một mảng đầu gối”. Điều đau khổ, bất hạnh nhất trong cuộc đời ấu thơ của em là thiếu tình thương. Mỗi bát cơm phải đổi nhiều nước mắt, luôn luôn bị người thím độc ác, tàn nhẫn đánh chửi. Chỉ một bao “ki-giắc” (phân gia súc khô) mà em bị mụ ta “đánh vào đầu”. Mụ đay nghiến, chửi rửa: “Quân không cha không mẹ! Chó sói có bao giờ lại thành chó nhà được!... Muốn xem trường thì rồi tao sẽ cho xem, mày cứ còn bén mảng đến gần đấy là tao đánh què cẳng đi. Tao sẽ làm cho mày nhớ đời cái trường ấy...” Nếu thầy Đuy-sen đã khơi dầy trong lòng An-tư-nai tình yêu thương, lòng khao khát học tập thì mụ thím tồi tệ làm em đau khổ, tan nát cả lòng, chìm đắm trong lo âu, ngồi thui thủi một mình trong xó bếp “lặng lẽ khóc vụng”, Em “không khóc vì những đòn thím đánh” vì em đã quen rồi, mà em chỉ khóc vì “hiểu rằng thím tôi không đời nào chịu cho tôi đi học”. Qua đó ta càng thấy rõ: bị thất học là nỗi đau khổ, bất hạnh lớn nhất của tuổi thơ!
Bài tham khảo 5:
Tình thương của người thầy, mái trường vẫy gọi ánh sáng cách mạng đã lay tỉnh mọi cuộc đời, từ bóng tối vươn ra ánh sáng. Như con chim sổ lồng cất tiếng hót, An-tư-nai cũng vậy, cô vừa chạy vừa reo với đất trời, với gió mây: “Hãy nhìn tôi đây! Hãy nhìn tôi đang kiêu hãnh chừng nào! Tôi sẽ học hành, tôi sẽ đến trường và sẽ dẫn cả các bạn khác đến”. An-tư-nai như được truyền thêm sức mạnh để vượt qua thử thách, để đến với mái trường tuổi thơ cùng các bạn. Con đường đến với mái trường, con đường đi học của An-tư-nai cũng là con đường đi tới ánh sáng cách mạng và hạnh phúc.
Bài tham khảo 6:
Chi tiết hai cây phong trong đoạn trích Người thầy đầu tiên đã để lại trong em những ấn tượng sâu sắc về tình thầy trò. Trong lúc An-tư-nai vẫn đang trăn trở, bồn chồn, lo lắng về tương lai của mình, về những điều khủng khiếp có thể xảy đến với cô. Thầy Đuy-sen thấu hiểu điều đó và thầy đã kéo cô đi trồng hai cây phong. Trồng hai cây phong là cách mà thầy giáo Đuy-sen nghĩ ra để giúp cho cô học trò An-tư-nai yêu quý của mình thoát khỏi những suy nghĩ đen tối đang bủa vây cô. Thầy so sánh An-tư-nai với cây phong nhỏ và mong sao cô có thể tìm thấy hạnh phúc trong học tập. Thầy vẽ ra trước mắt An-tư-mai về tương lai của cô, nó cũng sẽ phát triển như hai cây phong này, cũng sẽ lớn lên thật khỏe mạnh dưới sự chú ý của mọi người. Cuộc sống của An-tư-nai sẽ tốt đẹp hơn và cô hãy tin vào những điều đó.
Bài tham khảo 7:
Trước khi thầy đi lấy rạ khô, lúc tiễn các em nhỏ ra về, thầy nhẹ nhàng uốn nắn, thầy mời mọc ân cần. Các em nhỏ ra về mà cảm thấy yêu mến thầy, gắn bó với thầy và ngôi trường nhỏ của làng quê thân yêu. Hơn 30 năm sau, An-tư-nai đã thành đạt mà tâm hồn cô vẫn còn nghe tiếng nói nhỏ nhẹ của Đuy-sen: “Các em cứ gọi ta là thầy. Các em có muốn xem trường không? Vào đây, các em đừng ngại gì cả?”. Đuy-sen là người thầy đầu tiên, người thầy khai tâm khai sáng cho An-tư- nai. Thầy hiền hậu, thầy yêu thương tuổi thơ. Thầy đã đốt cháy lên trong lòng các em ngọn lửa nhiệt tình khát vọng và khát vọng đi học. Đuy-sen là hình ảnh tuyệt đẹp của một ông thầy tuổi thơ. Con đường tuổi trẻ là con đường học hành. Trên con đường đầy nắng đẹp ấy, anh chị và mỗi chúng ta sẽ được dìu dắt qua nhiều thầy, cô giáo. Cũng như An-tư-nai, trong tâm hồn mỗi chúng ta luôn luôn chói ngời những người thầy, những Đuy-sen cao đẹp.
Bài tham khảo 8:
Chi tiết mà em ấn tượng nhất trong đoạn trích Người thầy đầu tiên, là chi tiết về dòng tâm sự của nhân vật An-tư-nai khi đã trưởng thành. Cô bé ngày nào giờ đây đã là một người thành công, nhưng luôn khắc khoải về người thầy giáo đầu tiên của mình. Chi tiết ấy đã giúp chúng ta thấy được sự biết ơn và kính trọng sâu sắc của nhân vật An-tư-nai đối với thầy giáo của mình. Dù thời gian đã trôi qua rất lâu, nhưng cô vẫn luôn khắc ghi trong trái tim rằng, tất cả những con đường thành công mà cô đi đều bắt nguồn từ con đường mòn nhỏ bé đó. Và mọi thành công của cô, hạnh phúc của cô, ánh sáng của cô đều là nhờ người thầy vĩ đại ấy đem đến. Với A-tư-nai, thầy Đuy-sen không chỉ là một người thầy giáo, mà còn là một người cha, một vị chúa thực sự đã sưởi ấm và cứu rỗi cuộc đời cô.
Bài tham khảo 9:
Tình thương của người thầy, mái trường vẫy gọi ánh sáng cách mạng đã lay tỉnh mọi cuộc đời, từ bóng tối vươn ra ánh sáng. Như con chim sổ lồng cất tiếng hót, An-tư-nai cũng vậy, cô vừa chạy vừa reo với đất trời, với gió mây: “Hãy nhìn tôi đây! Hãy nhìn tôi đang kiêu hãnh chừng nào! Tôi sẽ học hành, tôi sẽ đến trường và sẽ dẫn cả các bạn khác đến”. An-tư-nai như được truyền thêm sức mạnh để vượt qua thử thách, để đến với mái trường tuổi thơ cùng các bạn. Con đường đến với mái trường, con đường đi học của An-tư-nai cũng là con đường đi tới ánh sáng cách mạng và hạnh phúc.
Bài tham khảo 10:
Đây là đoạn văn hay nhất, cảm động nhất. Mặt trời được nhân hoá, mặt trời là biểu tượng. Chất thơ, chất trữ tình không chỉ ở ngôn ngữ mà nó còn thấm sâu vào hồn người! Thiên nhiên như đang chia sẻ niềm vui với con người: “Mặt trời đã xế bóng ngang các sườn đồi, nhưng tôi cảm thấy hình như còn chần chừ không muốn lặn, còn muốn nhìn tôi. Ánh mặt trời tô điểm con đường tôi đi: mặt đất rắn mùa thu trải ra dưới, chân tôi nhuộm thành màu đỏ, màu hồng, màu tím. Từng cụm bông lau khô vun vút bay hai bên như những tia lửa lập loè. Mặt trời dọi lửa lên những chiếc cúc mạ bạc trên tấm áo đầy mụn vá tôi mặc”. Hình tượng “mặt trời” ở đây còn mang ý nghĩa như một biểu tượng nhằm ca ngợi ánh sáng Cách mạng tháng Mười đã chiếu rọi toả sáng vùng núi rừng lạc hậu Cư-gơ-rư-xtan, đem đến sự thức tỉnh và đổi đời trong lòng nhân dân các dân tộc mà An-tư-nai là một điển hình cảm động.