Phân tích một số câu thơ của Nguyễn Trãi mà em đã học hoặc đã đọc để thấy được vẻ đẹp tâm hồn của ông
Nội dung chi tiết
Đề bài: Phân tích một số câu thơ của Nguyễn Trãi mà em đã học hoặc đã đọc để thấy được vẻ đẹp tâm hồn của ông.
Bài tham khảo 1:
Trong nền văn học Việt Nam có rất nhiều những tác giả tác phẩm đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam những ấn tượng sâu sắc. Một trong những nhà thơ có đóng góp lớn cho nền văn học Việt Nam ta không thể không nhắc tới Nguyễn Trãi.
Nguyễn Trãi là một cái tên quen thuộc trong nền văn học trung đại Việt Nam. Ông là một trong ba nhân vật ở Việt Nam được Unesco công nhận là doanh nhân văn hóa thế giới. Tài năng của ông được thể hiện ở cả hai thể loại chữ Nôm và chữ Hán và đạt được những thành tựu đỉnh cao. Ông chính là người đặt nền móng đầu tiên và mở đường cho sự phát triển thơ ca tiếng Việt đương thời. Với những áng văn chương của ông đã giúp cho văn học trung đại phát triển mạnh mẽ, tác phẩm tiêu biểu của ông đó là "Bình Ngô Đại Cáo" là một áng thiên cổ hùng văn và là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc ta, với giọng văn hào hùng mạnh mẽ đầy tự hào. Ta cũng biết đến Nguyễn Trãi trong "Cảnh ngày hè" về một vẻ đẹp của mùa hè nhưng lại gửi gắm trong đó biết bao điều tuyệt vời của thi nhân. Nổi bật trong những bài thơ của Nguyễn Trãi ta không chỉ thấy được tài năng của ông mà còn nổi bật rõ vẻ đẹp tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân.
Qua những dòng thơ ông để lại ta thấy được một vẻ đẹp tâm hồn sâu sắc. Ông yêu thiên nhiên, ông muốn hòa hợp, gắn bó và rung động trước vẻ đẹp của nó. Ông cũng yêu đời, luôn vui vẻ, lạc quan, trân trọng cuộc sống của riêng ông. Bởi vậy nên ông lúc nào cũng sống thanh thản. Nhưng có lẽ tình yêu thương lớn nhất của ông đó chính là dành cho dân, cho nước, ông dành cả cuộc đời để nghĩ cho dân cho nước.
Rồi hóng mát thuở ngày trường
Với nhịp thơ lạ lùng như kéo dài cảm giác của một ngày nhàm chán, đó là điểm nhấn ở những nhịp thơ đầu tiên. Nhà thơ đang nói về việc hóng mát nhưng lại không có một chút thảnh thơi. Hai chữ "ngày trường" lại thể hiện nỗi chán chường của một ngày dài vô vị. Điều đó cho thấy nhà thơ tuy bề ngoài thưởng cảnh nhưng trong tâm không hề thanh thản. Thế nhưng tất cả những tâm trạng chán nản được nén lại khi nhà thơ đối diện với một thiên nhiên mãnh liệt đầy sức sống
Hoè lục đùn đùn tán rợp dương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Chỉ với ba câu thơ một bức tranh thiên nhiên nhiều màu sắc cùng với những hình ảnh đặc trưng của mùa hè đã hiện ra trước mắt người đọc. Đầu tiên đó là hình ảnh hòe bung sắc lục giống như một chiếc ô khổng lồ bao trùm lên cảnh vật, tạo cảm giác của không gian xanh bao la. Con mắt nhìn thiên nhiên của Nguyễn Trãi luôn qua sức bao quát và sức sống mãnh liệt động. Từ "đùn đùn" gợi cảm giác phóng khoáng, từ tầm nhìn xa Nguyễn Trãi đã thu tầm nhìn về gần hơn, nổi bật là màu sắc đỏ của thạch lựu trước hiên nhà cùng sắc hồng của ao sen. Nếu như câu thơ trên tả màu sắc đỏ rực của lựu thì câu dưới lại gợi nhớ cho ta một mùi hương sen thoang thoảng. Trong bức tranh thiên nhiên ấy chứa chan biết bao cảm xúc khi thì dịu nhẹ, lúc thì bừng bừng phun trào. Để rồi cuối cùng đọng lại là cảm giác man mác nhớ làn hương của hoa sen lúc cuối hè. Phải chăng ông là một người có tâm hồn tinh tế và những cảm nhận nhạy cảm thì mới có được những cảm xúc chân thực như thế. Giữa khung cảnh thiên nhiên đầy sức sống ấy nhà thơ dường như cũng bớt đi phần nào nỗi niềm buồn tủi để lòng mình hòa cùng với thiên nhiên.
Không chỉ cảm nhận thiên nhiên bằng mắt, Nguyễn Trãi còn lắng nghe lòng mình qua những âm thanh của thiên nhiên
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
Ta có thể thấy một sự chuyển đổi cảm xúc trong cách lắng nghe những âm thanh của cuộc sống. Giờ đây khi những thanh âm lại được cảm nhận từ xa đến gần. Thiên nhiên trong thơ của Nguyễn Trãi không hề tĩnh lặng mà trái lại rất sôi động gần gũi. Điều đó thể hiện tấm lòng yêu thiết tha cuộc sống của nhà thơ. Trong không gian yên bình của nhà thơ, Nguyễn Trãi đã chủ động hướng lòng mình về với đời thường.
Với nghệ thuật tương phản đã tạo nên một cảm hứng mới mẻ trong thơ của Nguyễn Trãi khi ấn tượng của nhà thơ về cảnh hoàng hôn không phải là mặt trời mà đó là âm thanh tiếng ve. Sự liên tưởng bất ngờ và độc đáo này đã chứng tỏ cho phẩm chất nghệ sĩ của Nguyễn Trãi. tiếng ve là âm thanh đặc trưng của mùa hè, qua thơ của Nguyễn Trãi nó thật sống động và thể hiện nhịp sống căng tràn của thiên nhiên. Bản thân của Nguyễn Trãi muốn lánh đời thoát tục, để cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên. Thế nhưng ông là một người hết lòng vì nước, vì dân nên dù cáo quan về ở ẩn ông cũng không thể thôi lo cho nước, cho dân.
Và chính bức tranh thiên nhiên ấy đã đổi thổi bùng khát vọng trong nhà thơ:
Dẽ có ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương
Còn gì giản dị thanh cao hơn với những lời thơ mộc mạc chân thành ấy. Giữa thiên nhiên tuyệt đẹp, Nguyễn Trãi không hề mong muốn hưởng thụ thú nhàn tản cho riêng mình, trong tâm hồn ông vẫn là nỗi niềm ưu quốc, ái dân, là khát khao hành động của một con người vì lợi ích của nhân dân. Ông nung nấu ý chí cống hiến cho đất nước.
Qua bài thơ ta có thể thấy vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi là một tâm hồn yêu thiên nhiên, muốn hòa cùng thiên nhiên. Đồng thời ông cũng là một con người hết lòng lo cho nước, cho dân.
Bài tham khảo 2:
Nguyễn Trãi - một cái tên đã quá quen thuộc với ta trong nền văn học trung đại của Việt Nam, ông là một trong ba nhân vật duy nhất ở nước ta được UNESCO công nhận là danh nhân văn hoá thế giới. Tài năng của ông được thể hiện ở cả hai thể loại chữ Nôm và chữ Hán mà ông đã đạt được những thành tựu to lớn. Chính Nguyễn Trãi đã là người đặt nền móng đầu tiên và mở đường cho sự phát triển thơ ca tiếng Việt đương thời, nhờ những áng văn chương kì bút của ông mà nó đã giúp cho văn học trung đại sự soi sáng và phát triển mạnh mẽ. Ta từng nghe qua “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được coi là áng “thiên cổ hùng văn” và đồng thời cũng là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc với giọng văn hào hùng, mạnh mẽ, đầy tự hào; và rồi ta cũng từng nghe qua “Cảnh ngày hè” cũng là một thi phẩm của ông nhưng lại mang một vẻ đẹp vô cùng đặc biệt về cảnh sắc ngày hè nhưng lại gửi gắm trong đó biết bao điều tuyệt vời của vị thi nhân. Bài thơ “Cảnh ngày hè” là bài số 43 trên 61 mục “Bảo kính cảnh giới” thuộc phần “Vô đề” của tác phẩm nổi tiếng “Quốc âm thi tập” mà ông đã sáng tác vào những năm tháng ở ẩn, lui khỏi chốn quan trường. Bài thơ không chỉ tả cảnh đơn thuần mà còn mang trong đó chính là tâm hồn của Nguyễn Trãi chứa chan tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân và đất nước,… con người ấy ta chỉ có thể dùng hai từ để miêu tả đó chính là “tuyệt vời” mà thôi!
Thật vậy, qua từng dòng thơ trong thi phẩm đã làm hiện hữu lên vẻ đẹp tâm hồn sâu sắc ấy, ông yêu thiên nhiên là ông đang hòa hợp, gắn bó, yêu quý và đặc biệt rung động trước vẻ đẹp của nó. Rồi ông cũng yêu đời, ông luôn vui vẻ, lạc quan, trân trọng chính cuộc sống của riêng ông tạo ra bởi vậy mà ông lúc nào cũng sống thật thanh thản và thanh tịnh. Nhưng có lẽ tình yêu lớn lao nhất chính là tình thương mà ông dành cho dân, cho nước, lúc nào cũng vậy, vị thi nhân ấy luôn nghĩ đến tình thương ấy trước bởi chăng nó đã thấm nhuần vào dòng máu của bậc tiền bối đáng quý. Vẻ đẹp tâm hồn ấy thật đáng ngưỡng mộ để rồi sau này cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói rằng: “trong sáng và đầy sức sống”
Trước hết bài thơ chính là tình yêu chan chứa mà ông dành cho thiên nhiên cũng như cuộc đời mình:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường
Hoè lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Mở đầu bài thơ, người thi sĩ hiện lên với tư thế nhàn hạ, thảnh thơi và rất tao nhã:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường”
câu thơ chỉ vỏn vẹn sáu từ nhưng đã miêu tả rõ nét về thời gian, hoàn cảnh cũng như tâm trạng của ông, Nguyễn Trãi thực sự khéo léo thể hiện tài năng của mình qua câu thơ lục ngôn đầy sáng tạo và độc đáo khi đã phá vỡ tính quy phạm vốn có trong văn học trung đại lúc bấy giờ. Với cách ngắt nhịp 1/2/3 làm câu thơ tưởng như tiếng thở dài nhưng không lấy một câu từ than vãn, dường như ông vô cùng thư thái hoà trọn mình với thiên nhiên bởi ông có hẳn một “ngày trường” để làm điều ấy. Hoàn cảnh thưởng ngoại cũng thật đặc biệt biết mấy, đây chính là những giây phút hiếm hoi trong cuộc đời của vị quan thanh liêm dành cả đời vì một sứ mệnh bảo vệ, lo lắng,… cho nhân dân, cho đất nước. Hơn 57 năm cống hiến là thế nhưng những năm cuối đời ấy cũng chẳng được mang hai chữ “bình yên” bởi chăng ông chẳng khỏi đắn đo suy nghĩ một nỗi ưu phiền?
Nếu như dưới thời Hồng Đức có hai câu thơ:
“Nước nồng sừng sực đầu rô trỗi
Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè”
Hai câu thơ cũng viết về cảnh ngày hè mang dáng vẻ mộc mạc, thô ráp và dân dã qua từng ngôn từ và cách miêu tả nhưng những điều ấy đã thay đổi hoàn toàn trong thơ ca của Nguyễn Trãi, nó được thay thế bởi sự giao cảm mạnh mẽ mà rất đỗi tinh tế của một tâm hồn chan chứa tình yêu thiên nhiên và yêu đời hiếm thấy qua năm câu thơ tiếp theo:
“Hoè lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Cảnh vật hiện lên trong bức tranh mang một sức sống mãnh liệt đến kì lạ, các nhà thơ xưa khi đến với thiên nhiên thường bằng bút pháp vịnh còn Nguyễn Trãi lại thiên về tả thực hết sức mới lạ. Bức tranh ấy hiện lên có đầy đủ đường nét, màu sắc, âm thanh, hương vị,… xen lẫn vào đó còn có cả cuộc sống của con người thật láo nhiệt, tràn đầy sức sống. Đầu tiên là màu xanh đậm của những tán hoè đang tầng tầng lớp lớp đẩy lên cao, còn kia lại là màu đỏ rực của những bông hoa lựu, và kia lại là màu hồng của những bông sen toả ngát mùi hương, trên cao ta lại bắt gặp màu vàng của nắng chiều ấm áp,… bức tranh đầy đủ màu sắc dường như đang cuốn hút ta đến với nó bởi màu sắc chan hòa, rực rỡ đến tinh tế và khéo léo. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trãi còn sử dụng hàng loạt những động từ mạnh diễn tả trạng thái của sự vật: “đùn đùn”, “rợp giương”, “phun”, “tiễn” khiến bức tranh càng thêm sống động và rồi cũng len lỏi vào bức tranh thiên nhiên ấy còn có âm thanh của tiếng đàn thiên nhiên, âm thanh cuộc sống con người bên làng chài lưới,… tô thêm vẻ sôi động náo nhiệt cho bức tranh thiên nhiên càng thêm phần hấp dẫn. Ta biết đến thơ văn trung đại qua đặc điểm ước lệ tượng trưng thiên về cách cảm nhận mang màu sắc sách vở, cổ điển muôn đời vì vậy mà thi nhân xưa thường tâm đắc với mùa thu hay mùa xuân hơn rất nhiều nhưng lại chỉ quanh đi quẩn lại gò bó trong cách thức miêu tả từ thể thơ đến hình ảnh như thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường Luật, thất ngôn bát cú Đường Luật,… hay là qua hình ảnh cánh chim nhạn, lá đỏ rừng phong, buổi chiều tàn đầy nỗi buồn,… Trong bức tranh này thì đã khác hoàn toàn bởi Nguyễn Trãi có tâm hồn yêu thiên nhiên vô cùng sâu sắc. Trước hết là cách chọn chủ đề mới lạ đó chính là mùa hạ và đặc biệt hơn cả là sử dụng ngôn từ tinh tế, qua đó bức tranh tràn đầy sức sống, mạnh mẽ và mãnh liệt phá cách đến cuốn hút người đọc. Sức sống ấy đã hoá thành màu sắc, thành tán, thành luồng, “đùn đùn” mà xanh, dào dạt mà “phun”, ngào ngạt mà nức, cảnh thiên nhiên không hề tĩnh lại mà vẫn động và cháy hết mình:
“Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ”
“thức đỏ” không còn chỉ dừng lại là màu sắc mà còn mang dáng vẻ của một sức sống dâng trào, sau này trong “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Duy cũng có câu thơ:
“Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”
câu thơ của Nguyễn Du mang đậm chất tạo hình, thiên về tả hình sắc chấm phá nhưng cũng mang một chút tương đồng với câu thơ của Nguyễn Trãi bởi nó đều cho ta cảm nhận được những thứ ẩn lấp sau dáng vẻ của bông hoa lựu, phải chăng đó chính là sức sống, là vẻ đẹp, là cảm xúc,… Thiên nhiên Nguyễn Trãi mang lại cho ta chứa chan biết bao xúc cảm, lúc bừng vừng phun trào với tán hoè với bông lựu, lúc lại dịu nhẹ lan tỏa với mùi hương sen ngào ngạt như lắng lại để tạo cho thi nhân một điểm tựa để hòa mình với thiên nhiên, để càng thêm yêu đời, yêu cuộc sống. Hẳn ông phải là một người có tâm hồn tinh tế lắm mới cảm nhận được sự chuyển động của cảnh sắc nơi đây, khi mà ông quan sát kĩ đến mức thấy nó vẫn “đang” phun màu, thấy nó “đã” tiễn mùi hương, và không chỉ cảm nhận bằng thị giác và khứu giác nữa mà Nguyễn Trãi còn cảm nhận thiên nhiên bằng cả thính giác để lắng nghe cuộc sống chốn thôn quê. Đó là âm thanh của chợ cá làng chài lưới, gợi cho ta đến một cuộc sống thanh bình ấm êm của người dân, cảnh mua bán của họ tấp nập mà không quá ồn ào để làm khuấy động cảnh sắc của bức tranh. Và rồi khi đọc đến dòng thơ này ta lại đặt ra một câu hỏi “quê hương ông không hề có biển, nhưng tại sao ở đây lại có hình ảnh của làng chài lưới?” Và câu trả lời chỉ có một, ông đã khéo léo hoà tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời của mình với tình yêu ông dành cho dân, âm thanh “lao xao” ấy chỉ được nghe bởi một thi nhân có tình thương sâu sắc với dân và đó chính là Nguyễn Trãi. Ca dao Việt Nam có câu:
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”
Hay là của Nguyễn Du:
“Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dan tay ra về”
Buổi chiều hiện lên mang một nét đượm buồn, từ nỗi buồn day dứt khi người phụ nữ xã hội phong kiến xưa nhớ về quê mẹ cho đến nỗi buồn man mác của chị em Thuý Kiều lúc hội xuân đã tàn. Nhưng buổi chiều qua bàn tay tài ba của Nguyễn Trãi lại ngược lại hoàn toàn, buổi chiều trong thơ ông hiện lên mang đầy âm hưởng của tiếng đàn thiên nhiên- tiếng ve kêu, nó tựa như tiếng đàn rất mạnh mẽ mà rạo rực, dân dã mà thanh tao, hối hả nhưng vẫn rất bình yên đến từ ánh nắng vàng buổi chiều tà. Nếu ở ẩn theo quan niệm đương thời chính là xa lánh với cuộc sống đời thường, khép mình với thiên nhiên, ủ rũ trong bốn bức tường,… thì Nguyễn Trãi lại thể hiện trong văn chứng minh rằng: ở ẩn là để phản chiếu tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời tha thiết và đón nhận, thưởng tức cuộc sống thanh bình để quên đi nỗi sầu phiền muộn.
Khác với những dòng thơ đầu của bài mang vẻ đẹp của tâm hồn yêu thiên nhiên và yêu đời thì hai câu thơ cuối lại là nỗi lòng của tác giả qua đó khắc hoạ một tâm hồn yêu nước, thương dân da diết đến xúc cảm của thi nhân:
“Dẽ có ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương”
Tuy rằng là một vị quan thất sủng không còn được vua Lê trọng dụng như trước nữa, ông cũng đã lui về ở ẩn tránh xa cuộc sống muộn phiền nhiều ganh đua nơi mà đầy những hiểm nguy “ra luồn vào cúi” cũng như Nguyễn Bỉnh Khiêm có hai câu thơ:
“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao”
Tưởng rằng như vậy là đã được nhàn, được sống thanh thản, nhưng không, vị quan thanh liêm ấy vẫn chưa bao giờ nguôi ngoai nỗi lo cho dân, cho nước bời ông luôn có tư tưởng: thương dân, yêu dân, trọng dân, ông coi những con người “chân lấm tay bùn” ấy quyết định suy vong của một triều đại. Ông ước ao có cây đàn của vua Ngu Thuấn- một ông vua trong thần thoại Trung Quốc từng trị vì triều đại lí tưởng, đất nước thái bình thịnh tri, nhân dân yên ấm thuận hoà và đó chính là ước mơ cả đời của ông, được cầm trên tay là cây đàn kia để rồi đàn một khúc Nam Phong gửi tới muôn dân:
“Gió nam mát mẻ
Làm cho dân ta bớt ưu phiền
Gió nam thổi đúng lúc
Là cho dân ta thêm nhiều của cải”
Và rồi Lê Thánh Tông cũng từng có câu thơ:
“Nhà bắc nhà nam đều có mặt
Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình”
Dân chính là món nợ của cả cuộc đời ông chưa trả hết, vì vậy trong ông lúc nào cũng mong ước dân ta cơm ăn đủ no, áo mặc đủ ấm, hạnh phúc, yên vui, và cùng ca ngợi dân giàu khắp mọi nơi. Lại một lần nữa Nguyễn Trãi sử dụng câu thơ lục ngôn với nhịp 3/3 kết lại ngắn gọn, cô đúc nhưng mang đầy tâm huyết, chứa đầy khát vọng của cả cuộc đời:
“Dân giàu đủ khắp đòi phương”
Quả thực tâm hồn Nguyễn Trãi chứa chan tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu dân, yêu nước, đó là một tâm hồn nhạy cảm đến thanh tao, tinh tế mà giản dị, tâm hồn ấy tựa như vì sao khuê đang tỏa sáng giữa bầu trời đêm cũng như Lê Thánh Tông từng viết rằng:
“Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”
Câu thơ là một lời đúc kết về Nguyễn Trãi vô cùng sâu sắc, nó thể hiện qua mỗi tác phẩm ông để lại cho hậu thế dù không nhiều nhưng đủ cho ta thấy một trí tuệ uyên bác, một chí khí hào hùng, một nhân cách cao thượng và đặc biệt là một tâm hồn tinh tế thể hiện rất rõ qua bài thơ “Cảnh ngày hè”
Bài thơ với tám câu sử dụng thể thơ Đường Luật của Trung Quốc nhưng đã khéo léo sử dụng hai câu thơ lục ngôn mang đậm bản sắc dân tộc đến tài tình để lại cho hậu thế những vần thơ vô cùng ý nghĩa, dễ đọc, dễ hiểu. Ngôn từ giản dị mà tinh tế, lồng ghép khéo léo cùng với các điển tích điển cố cũng những hình ảnh sinh động, sử dụng hàng loạt các tính từ, động từ mạnh đã góp phần tạo nên một thi phẩm, một kiệt tác, một áng văn chương để đời! Bài thơ tưởng chừng chỉ là một bức tranh tả cảnh sắc thiên nhiên cuộc sống đời thường nhưng ẩn sâu trong đấy lại là một bức tranh về vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi, nó chứa chan tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu đất nước, yêu dân cùng với đó là tâm hồn thanh cao, nhàn tản nhưng luôn hoài nỗi niềm đau đáu về dân về nước ấy đích thị là Nguyễn Trãi- một nhân cách sống tuyệt vời đáng để cho hậu thế học tập!
Bài tham khảo 3:
“Nhắc đến tên ông là thấy thơ
Như một nguồn thiêng chẳng bến bờ”
(Tế Hanh)
Có thể nói cuộc đời Nguyễn Trãi gắn liền với sự nghiệp văn chương của ông. Nếu như thời chống Minh dâng “Bình Ngô sách”, Nguyễn Trãi tích cực thực hiện tư tưởng nhân nghĩa bằng những áng “thiên cổ hùng văn” thì đến lúc về ẩn, ông lại gửi gắm tâm sự của mình qua những bài thơ trữ tình. Khác với những vần thơ hào hùng, đầy nhiệt huyết và lòng tự tôn dân tộc như “Bình Ngô đại cáo”, những lí lẽ đanh thép, sắc sảo trong “Quân trung từ mệnh tập”, bài thơ = (Bảo kính cảnh giới – bài 43) thực sự là một bức tranh về vẻ đẹp tâm hồn của một người nghệ sĩ, một người suốt đời yêu nước thương dân.
Mở đầu bài thơ là tư thế của nhân vật trữ tình:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường”
Nhịp thơ 1/5 thật lạ lùng cho thấy cảm giác của con người trong một ngày rỗi rãi. Thi nhân ngồi hóng mát trước hiên nhà nhưng vốn không phải là người thích chìm đắm vào thiên nhiên để quên hết việc đời nên điều đó không mang lại cho ông cảm giác thanh thản hay nhẹ nhõm thực sự. Vậy nên mới có cảm giác “ngày trường”, nghĩa là ngày dài, vô vị và buồn chán. Các nhà thơ xưa thường dồi dào cảm hứng trước mùa xuân, mùa thu nhưng Nguyễn Trãi lại chọn cho mình một đề tài riêng – vẻ đẹp của mùa hè. Và với một tâm hồn yêu thiên nhiên, một hồn thơ phóng khoáng cùng với xúc cảm tinh tế, nhà thơ đã mang đến cho ta một bức tranh thiên nhiên mùa hạ tuyệt đẹp:
“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”
Trước tiên là màu xanh tươi mát, tràn đầy sức sống của cây hòe. Màu lá hòe như trải rộng, che mát cả một khoảng sân nhỏ. Từ láy “đùn đùn” gợi cảm giác như nhựa sống đang ứa căng, tràn đầy và trào lên trong từng nhánh lá. Phía bên hiên nhà, màu đỏ của hoa lựu càng thơm rực rỡ. Màu đỏ ấy dường như không ở trong trạng thái tĩnh mà đang vận động, phun trào, bừng sáng giữa đám lá xanh. Sắc đỏ rực rỡ của hoa lựu gợi ta nhớ đến hai câu thơ của đại thi hào Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”:
“Dưới trăng quyên đã gọi hè,
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông”
Hình ảnh “lửa lựu lập lòe” và hình ảnh “thạch lựu phun thức đỏ” cho thấy Nguyễn Trãi và Nguyễn Du đều là những tâm hồn nghệ sĩ rất mực tinh tế. Nếu như Nguyễn Du thiên về tả màu sắc thì Nguyễn Trãi tập trung miêu tả sức sống nhiều hơn. Màu sắc của hoa cũng gợi lên sức sống của mùa hạ. Dưới ao nhà, sen cũng hưởng ứng bằng sắc hồng đặc trưng và hương thơm ngào ngạt. Nếu như ở câu thơ đầu là một tâm sự chán chường thì giờ đây, tất cả những tâm sự dồn nén ấy khi bắt gặp cảnh thiên nhiên tươi đẹp, rực rỡ và đầy sức sống đã nhường chỗ cho những cảm xúc vui tươi, sự say mê. Sự sinh động của thiên nhiên đã được thể hiện trong từng đường nét, màu sắc, âm thanh của bức tranh mùa hè. Bức tranh ấy không chỉ có sắc, có hương mà còn có cả những âm thanh bình dị của đời sống:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”
Từ “lao xao” gợi âm thanh từ xa vọng lại, không nghe rõ nhưng vẫn đủ để lại dư âm. Đó phải chăng chính là âm thanh của cuộc sống thường nhật nơi làng chài? Còn gì thân quen hơn cảnh chợ cá với cái “lao xao” của kẻ bán người mua? Tiếng ve kêu inh ỏi như thôi thúc thêm những sắc màu còn lại của mùa hè tiếp tục căng tràn và bung nở. Sự xuất hiện của tiếng ve như xua tan đi sự tĩnh lặng của căn lầu lúc mặt trời sắp lặn. Bức tranh thiên nhiên ngày hè được tác giả thu nhận bằng cả thính giác, thị giác và khứu giác. Bảo kính cảnh giới trong thơ Nguyễn Trãi hiện ra rộn rã, vui tươi và tràn đầy sức sống. Phải chăng chính tình yêu thiên nhiên và tâm hồn nhạy cảm đã giúp nhà thơ cảm nhận, quan sát và miêu tả Bảo kính cảnh giới một cách tinh tế, sinh động?
Nguyễn Trãi vui với thiên nhiên, với cuộc sống của con người nhưng điểm nổi bật nhất trong bài thơ vẫn là tấm lòng, tình đời của con người mà lòng yêu nước thương dân đã trở thành nỗi trăn trở, niềm ưu ái trong suốt cuộc đời. Khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống của con người trong ngày hè đã mở ra trong lòng nhà thơ ước vọng tha thiết:
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.”
Hai câu cuối như kết đọng bao suy tư của nhà thơ. Trước Bảo kính cảnh giới tràn ngập sắc màu và âm thanh, Nguyễn Trãi ước muốn có một cây đàn của vua Thuấn để tấu lên khúc nhạc “Nam phong” cầu cho nhân dân giàu đủ khắp muôn nơi. Câu thơ nặng trĩu nỗi day dứt và một tinh thần trách nhiệm cao cả. Ước nguyện của Nguyễn Trãi làm ta liên tưởng đến khát khao của Đỗ Phủ:
“Ước được nhà rộng muôn ngàn gian,
Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan,
Gió mưa chẳng núng, vững như thạch bàn!
Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt,
Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!
(Bài ca nhà tranh bị gió thu phá)
Đỗ Phủ và Nguyễn Trãi đã gặp nhau trong nhận thức, trong tư tưởng, trong tâm sự ưu thời mẫn thế. Vậy ra, từ trước đến nay, Nguyễn Trãi chỉ nhàn thân chứ không nhàn tâm. Dù ở bất cứ đâu, chốn quan trường hay nơi thôn dã thì thi nhân vẫn đau đáu một nỗi băn khoăn, trăn trở lo nước, thương đời. Suốt đời ông theo đuổi khát vọng đem lại cho nhân dân một cuộc sống ấm no, hạnh phúc để cho ở bất cứ nơi đâu dù là chốn thị thành hay nơi thôn cùng xóm vắng không còn một tiếng hờn giận, oán sầu. Tình yêu nước, yêu dân trong con người ấy trong sáng, chân thành đến mức thuần khiết. Đó cũng là tinh thần, là tư tưởng nhân đạo sâu và vững trong cốt cách của nhà thơ.
“Thơ phát khởi từ lòng người ta” (Ngô Thì Nhậm). Đọc một bài thơ hay là ta bắt gặp tâm hồn của một con người, cảm nhận được bao tâm tư, tình cảm ẩn trong từng con chữ. Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” không chỉ cho ta thấy bức tranh thiên nhiên tươi sáng, tràn đầy sức sống của cảnh sắc ngày hè mà còn phác họa thành công chân dung tinh thần của chính tác giả - người anh hùng, người nghệ sĩ tài hoa. Đó là con người say đắm trước vẻ đẹp thiên nhiên, thiết tha với sự sống, khao khát mang đến cho người dân cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Bên cạnh nội dung đặc sắc, “Bảo kính cảnh giới” còn rất thành công về mặt nghệ thuật. Nguyễn Trãi đã sáng tạo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, đưa chữ Nôm trở thành ngôn ngữ nghệ thuật giàu sức biểu cảm, biểu nghĩa. Ông cũng đưa vào thơ những hình ảnh dân dã, gần gũi, bình dị, rất đỗi Việt Nam: hình ảnh “chợ cá” và âm thanh “lao xao” của đời thường là những nét hiện thực rất dân dã mà văn chương cổ điển thường kiêng kị, cho là dung tục, không gợi sự thanh cao. Đó chính là điểm mới, những cách tân về nghệ thuật của Nguyễn Trãi trong bài thơ “Bảo kính cảnh giới”.
Bài thơ Bảo kính cảnh giới – bài 43 là một thi phẩm đặc sắc, tuy thuộc nhóm “Gương báu răn mình” nhưng không hề khô khan mà rất giàu cảm xúc. Bài thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người nghệ sĩ giàu rung cảm, có tấm lòng yêu đời tha thiết và tư tưởng, khát vọng của một nhân cách lớn. Thi phẩm cũng khẳng định vị trí của Nguyễn Trãi trong quá trình phát triển của thơ Nôm Việt Nam thời trung đại.
Bài tham khảo 4:
Nguyễn Trãi, một nhà thơ kiệt xuất của dân tộc, đã để lại cho đời sau nhiều tác phẩm có giá trị lớn. Trong bài thơ "Cảnh ngày hè", ông miêu tả cảnh ngày hè một cách tinh tế, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của mình.
Bài thơ mở đầu với sáu câu thơ miêu tả cảnh ngày hè một cách sôi động và sinh động: "Rồi hóng mát thuở ngày trường Hòe lục đùn đùn tán rợp giương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương Lao xao chợ cá làng Ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương"
Tác giả không chỉ miêu tả cảnh vật bằng thị giác mà còn bằng thính giác và khứu giác. Ông như cảm nhận được mùi hương, âm thanh của mùa hè. Cảnh ngày hè trở nên sống động với các màu sắc và âm thanh khác nhau, tạo nên bức tranh tươi đẹp và hài hòa.
Ở hai câu cuối của bài thơ, Nguyễn Trãi gửi thông điệp về tâm tư và suy nghĩ của mình: "Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương"
Mặc dù đón nhận cảnh ngày hè với tư thế ung dung, ông vẫn luôn quan tâm đến cuộc sống của nhân dân. Ông ước mong có cây đàn của vua Ngu Thuấn để mang lại hạnh phúc cho mọi người. Điều này thể hiện lòng yêu nước và tinh thần nhân đạo của Nguyễn Trãi.
Bài thơ "Cảnh ngày hè" được viết theo thể thơ Đường luật, nhưng tác giả không tuân theo bố cục quy định. Điều này cho thấy cá tính và sáng tạo của ông trong việc thể hiện vẻ đẹp tâm hồn qua từng câu thơ.
Tổng cộng, bức tranh cảnh ngày hè trong bài thơ của Nguyễn Trãi không chỉ thể hiện vẻ đẹp của mùa hè mà còn là phản ánh tâm hồn tươi sáng, yêu đời và tình yêu đất nước của nhà thơ. Đó là điều khiến bài thơ trở nên đặc biệt và đáng để đọc và suy ngẫm.
Bài tham khảo 5:
Có những bài thơ rung động lòng ta bởi vẻ đẹp mượt mà, mềm mại của tâm tư cảm xúc. Có những bài thơ lại khiến ta xao xuyến trong ánh sáng lung linh của vẻ đẹp ngôn từ… nhưng cũng có những bài thơ bình dị, mộc mạc, chân phương đến với ta như một nốt trầm xao xuyến, đọng lại trong mỗi trái tim một mạch nguồn xúc cảm nhuần nhị mà sâu lắng. “Côn Sơn ca” của Nguyễn Trãi là một bài thơ như thế, mang cái hồn thơ riêng biệt của một đại thi hào dân tộc…
Bức tranh thiên nhiên yên ả xanh trong hiện lên khiến ta thấy an bình, thảnh thơi và nhẹ nhõm lạ thường! Bức tranh ấy được hoạ lên bởi tiếng suối “rì rầm” xa xăm…
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
Khác với tiếng suối trong thơ Hồ Chí Minh “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”, trong thơ Nguyễn Trãi, tiếng suối được so sánh với “tiếng đàn cầm”. Nhà thơ lắng tai nghe tiếng suối chảy rì rầm mà như đang thưởng thức khác đàn cầm du dương, xao xuyến. Suối không chảy róc rách hay ồn ào mãnh liệt, suối “rì rầm” êm trôi như âm hưởng của thiên nhiên. Dường như âm thanh ấy làm tan biến tất cả u sầu, phiền muộn. Tâm hồn như thăng hoa, như hòa quyện vào thiên nhiên cảnh vật.
Tiếng đàn thổn thức bên tai, thổn thức cả trái tim người thi sĩ. Chắc hẳn phải yêu thiên nhiên lắm nhà thơ mới có cảm nhận tinh tế và sâu sắc đến vậy. Chỉ đơn thuần là tiếng suối, nhưng với tâm hồn nhạy cảm, “tiếng suối” thơ Nguyễn Trãi trở nên có hồn, sống động, trầm bổng như một khúc nhạc của thiên nhiên, như một thoáng rung động mong manh của lòng người. Chỉ với một phép so sánh, nhỏ nhưng cái tài cái tình của nhà thơ đã được thể hiện thật chân thực, rõ nét. Bức tranh thiên nhiên trong trẻo êm đềm như chính lòng người vậy. Chưa dừng ở đó, cảnh sắc Côn Sơn càng thêm sống động với:
“Côn Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm”
Nền đá bớt đi lạnh lẽo, quạnh hiu bởi những chiếc “chiếu rêu”. xanh mát bao phủ. Ngồi trên đá mà thoải mái dễ chịu như được ngồi chiếu êm. Cuộc sống không một chút cao sang mà rất đỗi dân dã, bình thường nhưng nhà thơ không thấy thiếu thốn, chỉ cần mình ta với thiên nhiên thôi là quá đủ rồi. Suy nghĩ ấy thật kì lạ, hiếm có. Lòng ta thấy thanh thản đến vô hạn… Nhà thơ ngồi trên chiếu êm, bên tại là tiếng đàn cầm du dương, còn gì tuyệt vời hơn thế…? Lời thơ, câu chữ thật giản đơn, bình dị nhưng khắc hoạ được cái tình thẳm sâu trong xúc cảm người thi sĩ… Người và cảnh giao hoà trọn vẹn, cái hồn và thiên nhiên cũng thấm vào nhau kết thành chất thi vị riêng biệt trong thơ Nguyễn Trãi…
“Trong rừng thông mọc như nêm
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm
Trong rừng có bóng trúc râm
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn”
Thiên nhiên chan hòa, cảnh vật tốt tươi, không gian ngập tràn màu xanh của rừng thông, rừng trúc. Một màu xanh trang trải đầy niềm tin và sức sống. Xanh cảnh vật, lòng người cũng nhuốm màu xanh căng tràn nhịp sống ấy. Thiên nhiên là nhà, là nơi chở che cho nhà thơ trong những năm tháng cáo quan về ở ẩn. Thiên nhiên “xanh mát” là cung nhạc khiến nhà thơ thổn thức, là “chiếu êm” để dừng chân ru hồn vào cảnh vật, là bóng mát yên lành giấc ngủ, là chốn thần tiên ngâm thơ thả tình vào đất trời…Cuộc sống ấy tuyệt diệu, yên ả biết bao nhiêu. Vứt bỏ những lo toan, suy nghĩ về việc đời, việc người, xoá bỏ cuộc sống tiền tài danh vọng mà hướng về thiên nhiên yên bình, tĩnh lặng. Không có cảm giác cô đơn, trơ trọi mà thay vào đó, tâm hồn ta được thảnh thơi, thực sự sống, thực sự cảm nhận… Thiên nhiên như người bạn tri kỉ, thân thiết, gắn bó với người thi sĩ, là một sợi dây vô hình gắn kết con người với đất trời vạn vật… Hiếm ai có cái suy nghĩ mới mẻ, khác lạ đến thế và chỉ có những con người biết yêu, biết đồng cảm mới thấu hiểu cuộc sống “ nhàn” ấy!! Hồn thơ Nguyễn Trãi – một hồn thơ thanh cao, chân thành mà sâu lắng. Phải là người biết cảm cái đẹp, biết yêu thiên nhiên tha thiết mới viết lên những vần thơ như thế!
Ngôn từ rất mực giản đơn, không một chút cầu kì nhưng nhờ đó, cái tình trở nên nổi bật và càng thêm mênh mông, xao xuyến. Thể thơ lục bát thích hợp cho việc miêu tả cảnh sắc thiên nhiên, nhịp thơ khoan thai dễ đi vào lòng người, để lại ấn tượng sâu đậm cho người đọc. Với biện pháp nghệ thuật so sánh, liệt kê, bức tranh Côn Sơn hiện lên với vẻ đẹp lạ lùng và giàu chất thơ…
Bài thơ kết thúc nhưng dư âm của nó còn ngưng đọng mãi không thôi…Tâm hồn người thi sĩ như sáng lên, hoà quyện và giao thoa với đất trời. Hồn thơ Ức Trai mang hơi thở của thiên nhiên, mang phong vị của một cuộc sống thanh tịnh và yên bình..
Bài tham khảo 6:
Từ xưa đến nay, đề tài thiên nhiên trong thơ ca cổ thường rất phong phú. Các nhà thơ Việt Nam thời trung đại đã viết nhiều áng thơ hay về vẻ đẹp của quê hương, trong đó có Nguyễn Trãi, nhà thơ tài hoa, cũng là vị anh hùng xuất sắc của dân tộc ta, đã sáng tác "Bài Ca Côn Sơn" trong những ngày ông về ở ẩn nơi quê nhà. Bài thơ vừa khắc họa cảnh thiên nhiên yên tĩnh, trong lành, vừa bộc lộ những cảm xúc đẹp của thi sĩ khi ngắm nhìn rừng núi quê hương:
"Côn Sơn suối chảy rì rầm
...
Trong màu xanh ngát ta ngâm thơ nhàn"
Bài thơ vốn được viết bằng chữ Hán nhưng đã được dịch ra tiếng Việt với thể thơ lục bát du dương, uyển chuyển. Bản dịch được đánh giá là hay, thể hiện đầy đủ xúc cảm của nguyên tác. Mở đầu bức tranh Côn Sơn là một âm thanh êm đềm:
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
Nhà thơ cảm nhận thiên nhiên trước hết bằng thị giác, và từ đó, đối tượng trữ tình là phong cảnh Côn Sơn hiện ra rất tao nhã, yên tĩnh. Âm thanh tiếng suối của thiên nhiên được so sánh với "tiếng đàn cầm bên tai". Tiếng đàn thánh thót thường thể hiện cảm xúc và tâm trạng của người nghệ sĩ. Còn tiếng suối kia, phải chăng là tiếng của núi rừng êm êm tâm tình cùng người thi sĩ? Tả tiếng suối bằng tiếng đàn là một cách miêu tả thật độc đáo, ta có cảm giác như nhân vật trữ tình đang say sưa thưởng thức âm thanh đó như thưởng thức nghệ thuật tuyệt đỉnh của mẹ thiên nhiên.
Về sau này, nhà thơ Hồ Chí Minh cũng có lần tả "Tiếng suối trong như tiếng hát xa", cũng là so sánh một âm thanh của tự nhiên với một âm thanh du dương do con người tạo ra. Hai nhà thơ ở hai thời đại khác nhau đều gặp gỡ ở tình yêu thiên nhiên tha thiết, nhưng tiếng suối - đàn cầm của Nguyễn Trãi thì đẹp một cách cổ điển, còn tiếng suối - tiếng hát của Hồ Chí Minh thì đẹp hiện đại, lấp lánh trẻ trung... Thế đấy, nhà thơ tả tiếng suối để khắc họa không gian yên tĩnh, đây là nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Và giữa không gian ấy là hình ảnh:
"Côn Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm"
Nhà thơ tả "đá" mới thật độc đáo làm sao: Ông cảm nhận đá qua màu rêu đã phơi nắng phơi mưa qua bao ngày bao tháng. Hình ảnh ấy khiến người đọc có cảm giác rằng đá Côn Sơn đã bao lâu "trơ gan cùng tuế nguyệt". Có lẽ nó mang trong mình chiều dài năm tháng và bề dày của những trang lịch sử, là hình ảnh của một thiên nhiên lâu đời, nguyên thủy mà nhà thơ mến yêu và gắn bó. Chính vì vậy, Nguyễn Trãi "ngồi trên đá như ngồi chiếu êm".
Lại là nghệ thuật so sánh rất đặc sắc, đưa thiên nhiên trở nên gần gũi vô cùng. Côn Sơn như ngôi nhà lớn, mà thảm rêu phơi kia đã trở thành chiếu êm của con người, giúp cho nhân vật trữ tình thảnh thơi ngồi nghỉ, để viết lên những vần thơ hay, êm êm như cảnh Côn Sơn. Côn Sơn còn có những rừng thông tươi xanh bốn mùa, để nhà thơ hòa mình sảng khoái:
"Trong rừng thông mọc như nêm
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm."
Người xưa thường yêu thông, vì nó là loài cây không sợ sương tuyết, cứ xanh tươi và mọc thẳng bất chấp phong ba. Hình ảnh rừng thông khiến cho cảnh Côn Sơn trở nên hùng tráng, với cách so sánh giản dị "thông mọc như nêm". Cánh rừng thông ấy không bao giờ gục ngã trong bão gió, đây là nét đẹp của sức sống, của niềm tin. Phải chăng ẩn ý của nhà thơ là như vậy? Rồi, con người xuất hiện dưới bóng mát rừng thông, trong một hành động thể hiện tâm thế thoải mái, thân thuộc là "ta lên ta nằm".
Rừng và thi nhân hài hòa trong một mối gắn bó mật thiết, bóng thông mát rượi che cho nhà thơ say giấc nồng ban trưa. Người đọc như cảm nhận được một tâm hồn dạt dào thi hứng và yêu mến thiên nhiên quê hương của Nguyễn Trãi. Côn Sơn không phải chỉ có thông reo, mà còn có rừng trúc tươi đẹp, hiền hòa, làm say đắm cả lòng người:
Trong rừng có bóng trúc râm
Trong màu xanh mát, ta ngâm thơ nhàn.
Cây trúc là loài cây đặc trưng của nhiều vùng quê Việt Nam. Có lẽ ở Côn Sơn thì trúc mọc thành rừng, nên nhà thơ dùng những cụm từ gợi tả như: "trúc râm", "màu xanh mát" để vẽ lên cảnh đẹp. Trúc tượng trưng cho người quân tử trong thơ ca cổ, và cũng gợi lên những ý nghĩa tốt lành nhất. Nhà thơ Nguyễn Khuyến khi viết về quê ông, vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng điểm xuyết và hình bóng đẹp của trúc: "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo". Trở về với Nguyễn Trãi, dưới bóng trúc, nhà thơ "ngâm thơ nhàn" thì thật là thú vui thanh cao, nguồn tưới tươi mát cho tâm hồn con người. Giọng ngâm thơ sang sảng khiến cho rừng trúc càng xanh, càng đẹp!
Bút pháp miêu tả bức tranh Côn Sơn của Nguyễn Trãi thật tài tình: hình ảnh thơ tươi đẹp, liên tưởng thú vị độc đáo, hình ảnh thiên nhiên và con người sóng đôi một cách tự nhiên... Từ đó, ta thấy được sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, và nhân cách thanh cao, ung dung của nhà thơ tỏa sáng trên từng câu chữ. "Bài ca Côn Sơn" không phải chỉ là một bức tranh đẹp, nó quả thật còn là một bản nhạc về tình yêu thiên nhiên và niềm hạnh phúc khi được ngắm nhìn vẻ đẹp thiên nhiên quê hương của nhà thơ.