Chọn một trong hai đề sau: (1) Nghe và tóm tắt nội dung giới thiệu về nhân vật Trần Bình Trọng với câu nói bất hủ: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc.”. (2) Nghe và tóm tắt nội dung giới thiệu về một tiểu thuyết đã đọc hay đã học.
Nội dung chi tiết
Đề tài: Chọn một trong hai đề sau: (1) Nghe và tóm tắt nội dung giới thiệu về nhân vật Trần Bình Trọng với câu nói bất hủ: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc.”. (2) Nghe và tóm tắt nội dung giới thiệu về một tiểu thuyết đã đọc hay đã học.
Dàn ý chủ đề (1):
*Mở bài: Giới thiệu chung về nhân vật
+ Giới thiệu về Trần Bình Trọng
+ Sinh năm 1259, nguyên họ Lê, con dòng dõi vua Lê Đại Hành
+ Vợ là công chúa Thuỵ Bảo, con vua Trần Thái Tông
+ Là người dũng cảm, mưu lược, võ nghệ tài giỏi
*Thân bài:
1. Trần Bình Trọng có công trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai
+ Giao nhiệm vụ giữ Đà Mạc - Thiên Mạc, ngăn chặn quân Nguyên Mông
+ Chiến đấu dũng cảm tại bãi Đà Mạc, cầm chân giặc càng lâu càng tốt
+ Bị bắt sau khi đội hình quân nhà Trần bị phá
2. Câu nói đầy ý nghĩa của Trần Bình Trọng
+ Thẳng thắn từ chối mọi dụ dỗ từ giặc bằng câu nói: "Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc"
=> Sự kiên trung và tinh thần không khuất phục trước sức ép
3. Sự hy sinh và tưởng nhớ Trần Bình Trọng
+ Bị giặc ra lệnh giết vào ngày 26/2/1285 khi mới 26 tuổi
+ Thương tiếc và tưởng nhớ của vua và triều đình
+ Truy phong tước vương, lập miếu thờ để tôn vinh dũng tướng Trần Bình Trọng
*Kết bài: Nêu cảm nhận chung của em về danh tướng Trần Bình Trọng
Dàn ý chủ đề (2):
* Mở bài: Giới thiệu về tiểu thuyết
+ Tên tiểu thuyết, tác giả, năm xuất bản
+ Thể loại, ngữ cảnh lịch sử hoặc xã hội mà tiểu thuyết đề cập đến
+ Nguyên nhân chọn đọc tiểu thuyết này và ấn tượng đầu tiên với tác phẩm
*Thân bài: Tóm tắt nội dung cơ bản của tiểu thuyết
- Giới thiệu về nhân vật chính và vai trò của họ trong câu chuyện:
+ Bối cảnh và môi trường sống của nhân vật
+ Cuộc phiêu lưu, thử thách, xung đột mà nhân vật phải đối mặt
+ Những điểm nhấn, sự kiện quan trọng trong tiểu thuyết mà bạn cảm thấy đáng nhớ
- Sự phát triển của tiểu thuyết và thông điệp ngụ ý
+ Sự thay đổi của nhân vật chính qua các sự kiện, mối quan hệ và học hỏi
+ Các thông điệp về tình yêu, hạnh phúc, đau khổ, nhân quả hoặc các giá trị đạo đức mà tiểu thuyết muốn truyền đạt
+ Biến cố cuối cùng, kết thúc và những bài học rút ra sau khi đọc xong tiểu thuyết
*Kết bài:
- Đánh giá cá nhân về tiểu thuyết
+ Những ấn tượng và cảm xúc cá nhân khi đọc tiểu thuyết
+ Ý nghĩa của tiểu thuyết đối với cuộc sống và tầm quan trọng của việc đọc sách, tiểu thuyết
+ Khuyến khích hoặc không khuyến khích độc giả khác đọc tiểu thuyết này và lý do đi kèm
Bài tham khảo 1: Chủ đề (1)
Trong lịch sử Việt Nam, có rất nhiều câu nói bất hủ của các anh hùng dân tộc. Một trong những câu nói bất hủ là lời mắng của danh tướng Trần Bình Trọng: "Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc".
Trần Bình Trọng sinh năm 1259, là hậu duệ của vua Lê Đại Hành. Ông được nhà Trần ân sủng và cho mang họ Trần. Trong cuộc chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ 2, Trần Bình Trọng bị bắt sống. Tuy nhiên, ông đã kiên quyết không hé lộ thông tin quân sự, thậm chí mắng lại tướng giặc rằng "Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc". Lời mắng này thể hiện tinh thần bất khuất và lòng yêu nước của ông. Cuối cùng, Trần Bình Trọng đã hy sinh, nhưng đóng góp của ông đã giúp nhà Trần chuẩn bị lực lượng phản công và giành chiến thắng vang dội.
Nhờ sự chiến đấu anh dũng và sự hy sinh oanh liệt, thà chết chứ không chịu làm lộ thông tin quân sự của triều đình, của Trần Bình Trọng, triều đình nhà Trần mới có thời gian và điều kiện để chuẩn bị lực lượng phản công. Sau đó chỉ vài tháng, quan quân nhà Trần đã dốc toàn lực phản công, đập tan quân Nguyên Mông. Nhiều tướng giặc bị chém đầu tại trận, trong đó có Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán. Riêng Thoát Hoan hoảng sợ phải chui vào ống đồng để tránh tên bắn, bắt quân lính khiêng chạy chối chết về nước.
Tưởng nhớ công ơn và cảm khí tiết của Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng, ngày nay, tên của ông được đặt cho nhiều đường, phố ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Riêng ở Hà Nội, tên của Trần Bình Trọng được đặt cho tuyến phố nối từ phố Trần Hưng Đạo tới phố Trần Nhân Tông - hai nhân vật anh hùng cùng thời với Trần Bình Trọng gắn liền với chiến thắng vang dội trong 2 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, lần thứ 2 và lần thứ 3.
Bài tham khảo 2: Chủ đề (1)
Trần Bình Trọng sinh năm 1259. Ông nguyên họ Lê, dòng dõi vua Lê Đại Hành, được biết đến là người dũng cảm, mưu lược và võ nghệ tài giỏi hơn người. Ông được vua Trần Thánh Tông quý trọng, gả công chúa Thuỵ Bảo, con vua Trần Thái Tông, em của Trần Nhật Duật cho.
Ở cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, thượng hoàng Trần Thái Tông và vua Trần Nhân Tông giao nhiệm vụ giữ vùng Đà Mạc - Thiên Mạc (nay là vùng giáp ranh giữa Hưng Yên và Hải Dương), ngăn chặn quân Nguyên Mông, đảm bảo cho vua, triều đình, tôn thất và đại quân rút lui an toàn theo đường sông Hồng về hướng phủ Thiên Trường.
Trần Bình Trọng chỉ huy cuộc đánh chặn quân giặc tại bãi Đà Mạc, cho binh sĩ tả xung hữu đột, không ngại hy sinh, chiến đấu rất ngoan cường để kéo dài thời gian nhằm cầm chân quân Nguyên Mông càng lâu càng tốt. Tuy nhiên, với sự chênh lệch quá lớn về lực lượng, sau nhiều đợt tấn công, quân giặc phá được đội hình quân nhà Trần, Trần Bình Trọng bị sa vào tay giặc.
Theo sách Những danh tướng chống ngoại xâm thời Trần, bắt được viên tướng trẻ của Đại Việt, giặc thấy rõ tài năng, chí khí nên lập kế mua chuộc. Chúng thiết đãi Trần Bình Trọng rất hậu hĩnh, cho ăn ở chu đáo, đối xử mềm mỏng, nhưng Trần Bình Trọng "nhất quyết tuyệt thực, không thèm trò chuyện, không hé nửa lời". Cuối cùng, chúng dùng danh lợi, chức tước để hòng cám dỗ ông.
Khi nghe tên tướng giặc hỏi có muốn làm vương ở nước chúng, hưởng phú quý giàu sang, Trần Bình Trọng giận sôi người, không thể nín lặng được nữa, ông đã quát to vào mặt tên tướng giặc "Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc".
Giặc biết không có cách nào chiêu dụ được Trần Bình Trọng nên ra lệnh giết ông để trừ hậu họa vào ngày 26/2/1285. Khi đó, ông mới 26 tuổi.
Được tin Trần Bình Trọng mất, vua và triều đình vô cùng thương tiếc dũng tướng hết lòng vì dân vì nước. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép vua Trần Nhân Tông "được tin này, vật vã khóc thương". Nhà vua đã truy phong tước vương (là tước thứ nhất, chỉ phong cho người trong hoàng tộc) cho ông, tặng ông hai chữ "Trung Nghĩa" và cho lập miếu thờ ngay trên vùng đất ông đã chiến đấu và hy sinh.
Bài tham khảo 3: Chủ đề (1)
Chắc hẳn, các bạn đều biết đến danh tướng Trần Bình Trọng. Ông nổi tiếng với câu nói: “Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”.
Để hiểu được ý nghĩa của câu nói, chúng ta cần hiểu được “làm ma” có nghĩa chỉ cái chết, “làm vương” ý chỉ có được quyền lực, vinh hoa phú quý. Trần Bình Trọng muốn khẳng định rằng ông chấp nhận cái chết để bảo vệ chủ quyền đất nước, chứ không chịu làm tay sai cho kẻ thù để có quyền lực lớn trong tay hay hưởng vinh hoa phú quý. Câu nói của Trần Bình Trọng đã thể hiện khí phách của một bậc anh hùng hết lòng trung thành với đất nước. Đó cũng là lời nhắc nhở sâu sắc cho thế hệ sau.
Yêu nước vốn là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định rằng: “Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta.”. Quả vậy, từ trong quá khứ, nhân dân Việt Nam đã cùng nhau đoàn kết để đánh bại biết bao kẻ thù xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho đất nước. Đến khi hòa bình lập lại, yêu nước lại được thể hiện qua những hành động khác nhau. Thế hệ trẻ khi tiếp thu văn minh hiện đại của nước ngoài dựa trên nguyên tắc “hòa nhập chứ không hòa tan”. Nhiều thanh niên tài năng với những phát minh khoa học được thế giới công nhận lại nguyện trở về Việt Nam xây dựng sự nghiệp. Nhiều sinh viên vừa mới tốt nghiệp, tình nguyện trở về quê hương để xây dựng cho quê hương mình. Chúng ta luôn kiên quyết trong việc bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của đất nước.
Vậy nhưng, một bộ phận nhỏ lại có lối sống vô ơn, bội bạc. Họ quên đi nguồn cội, có những hành động gây tổn hại đến đất nước. Chúng ta cần phải tỉnh táo để nhận thức được và tránh xa. Và câu nói của danh tướng Trần Bình Trọng giàu tính biểu tượng, gửi gắm thông điệp ý nghĩa cho thế hệ muôn đời sau.
Tóm lại, câu nói “Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc” giàu tính biểu tượng, vô cùng sâu sắc. Mỗi người cần ghi nhớ để có thể tu dưỡng, rèn luyện bản thân và sống sao cho ý nghĩa.
Bài tham khảo 4: Chủ đề (1)
Trần Bình Trọng được biết đến với câu nói nổi tiếng: “Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”.
Đầu tiên, cần hiểu được ý nghĩa của câu nói. Cụm từ “làm ma” có ý chỉ cái chết, “làm vương” ý chỉ có được quyền lực, vinh hoa phú quý. Từ đó, có thể hiểu là Trần Bình Trọng muốn khẳng định rằng thà hi sinh cho đất nước, chứ không chịu làm tay sai cho kẻ thù phương Bắc để hưởng vinh hoa phú quý, có được quyền lực. Ngoài ra, Trần Bình Trọng cũng muốn nhắn nhủ rằng con người cần phải giữ trọn khí tiết, chết vinh còn hơn sống nhục.
Dân tộc Việt Nam đã trải qua quá trình dựng nước và giữ nước. Trong suốt những năm tháng đó, chúng ta đã phải đối mặt với biết bao kẻ thù xâm lược. Nhưng nhân dân Việt Nam vẫn kiên cường đấu tranh, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ của dân tộc. Biết bao thế hệ đã ngã xuống khi tuổi đời còn quá trẻ. Ở hiện tại, đất nước đã có được độc lập, tự do. Con người được sống trong bình yên. Tinh thần yêu nước được thể hiện qua nhiều hành động. Ví dụ như các bạn trẻ cố gắng học tập để cống hiến, xây dựng đất nước phát triển. Việc hội nhập văn hóa nước ngoài diễn ra nhưng vẫn dựa trên tinh thần giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống. Những hoạt động quảng bá du lịch, bảo vệ môi trường tự nhiên cũng thể hiện được lòng yêu nước. Ngoài ra, khi xảy ra tranh chấp chủ quyền, mỗi công dân cũng đều thể hiện được quan điểm cá nhân, yêu cầu tôn trọng chủ quyền lãnh thổ dân tộc.
Dù vậy, một số người lại chạy theo lối sống vật chất, quên đi nguồn cội của bản thân. Họ có những hành vi chống phá, gây tổn hại đến đất nước. Điều này thật đáng lên án và phê phán. Học sinh - thế hệ tương lai của đất nước phải tự ý thức trách nhiệm của bản thân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Việc làm quan trọng nhất là cố gắng học tập và rèn luyện tốt để trở thành một chủ nhân giàu tiềm năng kiến thiết đất nước cường thịnh “sáng vai với các cường quốc năm châu”. Đồng thời, chúng ta cũng cần tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện như thăm hỏi gia đình thương binh liệt sĩ, giúp đỡ những bà mẹ Việt Nam anh hùng, ủng hộ cho nạn nhân chất độc màu gia cam. Hay các hoạt động thuyết trình về vấn đề nền bảo vệ hòa bình thế giới, chủ quyền biển đảo, quyền lợi dân tộc…
Như vậy, câu nói của danh tướng Trần Bình Trọng giàu tính biểu tượng, gửi gắm thông điệp ý nghĩa cho thế hệ hôm nay và mai sau. Mỗi người hãy ghi nhớ để sống sao cho xứng đáng.
Bài tham khảo 5: Chủ đề (1)
Trần Bình Trọng là một danh tướng nổi tiếng của thời Trần. Ông được biết đến với câu nói: “Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Câu nói là lời khẳng định đanh thép về tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm chống lại kẻ thù xâm lược.
Trước hết, chúng ta cần hiểu được ý nghĩa của câu nói. “Làm ma” có nghĩa chỉ cái chết, “làm vương” ý chỉ có được quyền lực, vinh hoa phú quý. Ý của cả câu nói là Trần Bình Trọng thà hi sinh cho đất nước, chứ không chịu làm tay sai cho kẻ thù phương Bắc để hưởng vinh hoa phú quý, có được quyền lực. Suy rộng ra, ông cũng muốn khẳng định làm người phải giữ trọn khí tiết, chết vinh còn hơn sống nhục. Đối với ông, trách nhiệm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của dân tộc, đánh đuổi kẻ thù khỏi bờ cõi còn quan trọng hơn cả giữ gìn mạng sống. Ông sẵn sàng hi sinh để bảo vệ đất nước, nhân dân và không chịu khuất phục trước kẻ thù. Câu nói của Trần Bình Trọng thể hiện một khí phách hiên ngang, anh dũng thật đáng ngưỡng mộ, tự hào.
Lịch sử dân tộc đã trải qua nhiều năm tháng đấu tranh bảo vệ đất nước. Bất cứ thời đại nào cũng có những bậc anh hùng đứng lên lãnh đạo nhân dân đoàn kết chống lại kẻ thù. Theo dòng chảy lịch sử của dân tộc, song hành với việc dựng nước cũng là việc giữ nước. Chúng ta đã từng đánh Tống đuổi Minh trừ Thanh diệt Pháp thắng Mỹ. Trang sử nào cũng vẻ vang, trang sử nào cũng chói lọi và đáng tự hào. Đó chính là minh chứng hùng hồn cho khát vọng bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc.
Trong di chúc của vua Trần Nhân Tông có lời căn dặn dành cho thế hệ con cháu thật sâu sắc: “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta muốn lời nhắn nhủ này như một lời di chúc trọn muôn đời cho con cháu.”. Niềm tự hào, tự tôn dân tộc vẫn còn âm vang trong lời thơ của Nguyễn Trãi khi đặt các triều đại của Việt Nam ngang hàng với các triều đại của Trung Quốc trong Bình Ngô đại cáo:
“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”
Và đến thời đại Hồ Chí Minh, có thể nói khát vọng về chủ quyền dân tộc thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ luôn cháy bỏng mãnh liệt hơn bao giờ hết: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Kế thừa tinh thần đó, nguyên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng khẳng định trước dư luận và truyền thông quốc tế: “Chúng tôi không đánh đổi lãnh thổ lấy tình hữu nghị viển vông”. Có thể thấy rằng, dù trong quá khứ hay hiện tại thì nhân dân Việt Nam luôn sẵn sàng đấu tranh để bảo vệ chủ quyền của quốc gia dân tộc.
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận nhỏ trong đời sống thờ ơ, vô cảm với thời cuộc không có trách nhiệm đối với đất nước, bản lĩnh chính trị yếu kém, dễ dàng bị xúi giục, kích động a dua theo đám đông làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia dân tộc. Với bản thân, tôi luôn thức được việc cần tu dưỡng phẩm chất đạo đức tích lũy tri thức để đóng góp cả vật chất lẫn tinh thần cho công cuộc giữ vững chủ quyền dân tộc.
Câu nói của danh tướng Trần Bình Trọng giàu tính biểu tượng, gửi gắm thông điệp ý nghĩa cho thế hệ muôn đời sau. Mỗi người cần phải ghi nhớ để nhắc nhở bản thân sống sao cho xứng đáng với thế hệ ông cha đã hy sinh để giành lại nền độc lập cho đất nước ngày hôm nay.
Bài tham khảo 6: Chủ đề (1)
Trần Bình Trọng – người góp công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Mông - Nguyên xâm lược lần 2 (1285) và đã hy sinh vì tổ quốc. Tinh thần bất khuất, hiên ngang của ông được thể hiên mạnh mẽ, đầy đủ qua câu nói: “Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc…”. Đây là câu nói bất hủ của ông đươc mọi người dân Đại Việt nhớ mãi và nó cũng đã trở thành biểu tượng của tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc. Tinh thần bất khuất của Trần Bình Trọng toát ra từ câu nói đó đã làm cho toàn quân dân nhà Trần nức lòng chiến đấu, đánh đuổi giặc Mông-Nguyên ra khỏi bờ cõi dành lại dộc lập bền vững cho non sông đất nước. Khí tiết và cái chết oanh liệt của Trần Bình Trọng đã thổi thêm ngọn lửa căm thù giặc vào toàn thể quân dân Đại Việt thời Trần, góp phần làm nên chiến thắng Mông-Nguyên vĩ đại trong lịch sử nước nhà. Ông mãi mãi là tấm gương soi sáng về tinh thần bất khuất trước mọi uy lực, không bị mua chuộc bởi vinh hoa phú quý, sẵn sàng hy sinh tính mạng vì tổ quốc. Ý chí lớn lao đó đã được con cháu đời sau của Trần Bình Trọng noi theo, nổi bật hơn cả là Trần Khát – người đã đánh thắng binh lực hùng mạnh của Chiêm Thành dưới thời Chế Bồng Nga, giải cứu Thăng Long thoát khỏi những đợt tấn công của quân Chiêm Thành vào cuối thế kỷ XIV.
Tấm gương của Trần Bình Trong đã được ngợi ca trong tác phẩm“Đại Nam quốc sử diễn ca” của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái như sau:
“Trần Bình Trọng là tôi trung,
Thà làm Nam quỷ, chẳng lòng Bắc vương”
Trần Bình Trọng là một trong những bậc anh hùng ưu tú, chói sáng trong trang sử vàng của lịch sử dân tộc. Hiện nay, để tưởng nhớ đến công lao to lớn ấy mà nhiều phong trào thanh niên được phát động noi theo tinh thần của tuổi trẻ Trần Bình Trọng, tinh thần của tuổi trẻ Đại Việtvà những bậc danh nhân ở những thời kỳ khác. Dân tộc Việt Nam luôn có truyền thống hào hùng, bất khuất trong đấu tranh bảo vệ đất nước: “có cái chết hóa thành bất tử, có những lời hơn mọi lời ca“ (trích “Hãy nhớ lấy lời tôi” của Tố Hữu ngợi ca tinh thần bất tử của người thanh niên yêu nước Nguyễn Văn Trỗi). Đúng như thế, Trần Bình Trọng vẫn sẽ sống cùng lịch sử dân tộc Việt Nam, vẫn in dấu trong thơ ca văn học Việt Nam, đồng thời Trần Bình Trọng góp phần tô điểm cho non sông đất nước Việt Nam này một tươi đẹp hơn, rạng rỡ hơn, là tấm gương kiên cường, dũng cảm, gan dạ cho tuổi trẻ Việt Nam trong thời đại mới hôm nay.
Bài tham khảo 7: Chủ đề (1)
Trong lịch sử nước Việt ta còn ghi lại rất nhiều câu nói bất hủ của các bậc anh hùng dân tộc, làm rạng danh nước nhà. Một trong những câu nói bất hủ phải kể đến là lời mắng: “Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc” của danh tướng Trần Bình Trọng thời nhà Trần.
Trần Bình Trọng sinh năm Kỷ Mùi (1259), là người xã Bảo Thái (nay thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam). Ông vốn là hậu duệ của vua Lê Đại Hành. Do cha Trần Bình Trọng làm quan dưới triều Trần Thánh Tông lập được nhiều công trạng lớn, nên được nhà vua ân sủng ban cho quốc thích (cho mang theo họ vua). Bởi vậy, Trần Bình Trọng mới có họ Trần, thay vì mang họ Lê. Về chuyện này, sách Toàn thư, quyển V, kỷ Nhân Tông hoàng đế có đoạn viết: “Bình Trọng dòng dõi Lê Đại Hành, chồng sau của công chúa Thụy Bảo, do ông cha làm quan đời Trần Thái Tông, nên được cho quốc tính nhà họ Trần”.
Câu chuyện Trần Bình Trọng hy sinh oanh liệt sau lời mắng nhiếc lũ giặc ngoại xâm xảy ra dưới thời vua Trần Nhân Tông, trong cuộc chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ 2.
Bấy giờ, vua Trần Thánh Tông nhường ngôi cho con, rút lui về “hậu trường” làm Thái thượng hoàng. Lấy cớ Trần Nhân Tông tự lên ngôi báu mà chưa được sự “cho phép” của hoàng đế Nguyên Mông, nhà Nguyên sai sứ là Sài Thung sang đòi Trần Nhân Tông phải đích thân sang thần phục. Tuy nhiên, vua Trần Nhân Tông quyết giữ quốc thể, lấy cớ thoái thác không sang, cử chú là Trần Di Ái sang thay. Vua Nguyên là Hốt Tất Liệt bèn phong Di Ái làm An Nam quốc vương, cử 1000 quân đưa Di Ái về làm vua An Nam. Tuy nhiên, âm mưu này bị Trần Nhân Tông dẹp tan. Hốt Tất Liệt tức giận bèn dụng mưu đánh chiếm nước ta. Cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông lần thứ 2 bắt đầu như vậy.
Do sự chênh lệch quá lớn về quân số, mũi quân đánh chặn của Trần Bình Trọng thất bại, Trần Bình Trọng bị bắt sống. Tuy nhiên, Trần Bình Trọng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cầm chân địch khi chúng hoàn toàn mất dấu vết nhà Trần sau trận đánh này.
Để moi móc thông tin, tướng giặc đã dùng mọi cách với Trần Bình Trọng, từ dọa dẫm tới mềm mỏng. Nhưng Trần Bình Trọng quyết không nói nửa lời. Cuối cùng, tướng giặc dụ dỗ sẽ xin phong vương nếu Trần Bình Trọng quy hàng, nhưng ông đã khảng khái thét mắng vào mặt chúng: “Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Lời thét mắng ấy thể hiện rõ quan điểm khẳng định Đại Việt là một nước độc lập và có ý coi thường triều đình phương Bắc khi ông chỉ gọi nhà Nguyên Mông là “đất Bắc”. Lời thét mắng ấy của Trần Bình Trọng khiến quân giặc giận tím mặt. Chúng giết ông ngay tức khắc. Sử sách còn ghi lại thời điểm ấy là tháng Chạp năm Ất Dậu (1285). Năm ấy, Trần Bình Trọng mới có 26 tuổi.
Nhờ sự chiến đấu anh dũng và sự hy sinh oanh liệt, thà chết chứ không chịu làm lộ thông tin quân sự của triều đình, của Trần Bình Trọng, triều đình nhà Trần mới có thời gian và điều kiện để chuẩn bị lực lượng phản công. Sau đó chỉ vài tháng, quan quân nhà Trần đã dốc toàn lực phản công, đập tan quân Nguyên Mông. Nhiều tướng giặc bị chém đầu tại trận, trong đó có Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán. Riêng Thoát Hoan hoảng sợ phải chui vào ống đồng để tránh tên bắn, bắt quân lính khiêng chạy chối chết về nước.
Cuộc chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ 2 thắng lợi ròn rã nhờ công đóng góp không nhỏ của Trần Bình Trọng. Bởi thế, khi xét công trạng, vua Nhân Tông đã truy phong ông là Bảo nghĩa vương.
Bài tham khảo 8: Chủ đề (2)
Tiểu thuyết Hoàng Tử Bé chính là cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa một phi công phải đáp máy bay xuống sa mạc Sahara cùng với hoàng tử bé đến từ hành tinh B612. Sau nhiều ngày đối mặt với nỗi cô đơn bên cạnh chiếc động cơ hỏng, đang ngủ gật vì mệt, chàng hoàng tử xuất hiện cũng như không ngần ngại yêu cầu anh vẽ một chú cừu cho mình. Từ đó họ ở cạnh nhau như những người bạn, cậu bé khiến viên phi công sau nhiều năm đã lãng quên rằng niềm đam mê hội họa đã cầm lại bút và vẽ theo yêu cầu của cậu.
Hoàng tử bé đã đưa viên phi công quay trở về tuổi thơ, niềm đam mê bị chối bỏ. Để cuối cùng đành từ bỏ giấc mơ và theo đuổi sự nghiệp làm phi công mà cha mẹ anh mong muốn. Nhưng với yêu cầu của cậu bé, chàng phi công như tìm lại được chính mình ở tuổi thơ đã qua, nghe được giọng cười giòn tan, kể cả những giọt nước mắt của cậu bé cũng thật thuần khiết, trong sáng.
Cậu bé kể cho anh nghe về hành tinh B612 của cậu, nơi chỉ có 2 ngọn núi lửa đang hoạt động cùng một ngọn núi lửa đã tắt. Công việc mỗi ngày của cậu ở đó là nạo vét những ngọn núi lửa cũng như phân biệt những mầm cây bao báp với mầm cây hoa hồng. Sau đó bỏ chúng bởi cây bao báp chính là 1 mối hiểm họa có thể xuyên thủng hành tinh của cậu nếu chúng lớn lên.
Một ngày có một hạt mầm hoa hồng chẳng biết từ đâu bay đến hành tinh B612 sau đó nở ra một bông hoa vô cùng xinh đẹp. Hoàng tử bé đem lòng yêu nàng cũng như sẵn sàng chiều chuộng theo tất cả những yêu cầu của nàng. Tuy nhiên bông hoa kiêu kỳ ấy cũng khiến cho hoàng tử bé không khỏi buồn phiền, tới một hôm cậu quyết định rời khỏi hành tinh cùng với chuyến di cư của bầy chim.
Cậu lần lượt đi qua 6 hành tinh cũng như gặp gỡ những người kỳ lạ. Đó là một ông vua không có thần dân, ông hợm hĩnh thích được hoan hô hay một ông nát rượu, một nhà buôn mở tài khoản sở hữu các vì sao, một người thắp đèn rồi tắt đèn liên tục tuân theo mệnh lệnh, một nhà địa lý chỉ ngồi bên bàn sách mà không bao giờ ra ngoài khám phá thế giới.
Hoàng tử bé đã chọn trái đất là điểm đến cuối cùng sau khi gặp một con rắn, một bông hoa tầm thường. Cậu đã lạc vào một vườn hoa hồng có đến hơn năm nghìn bông hoa giống nhau đang khoe sắc. Vì vậy cậu vô cùng thất vọng vì bông hoa của cậu đã lừa dối rằng cô ấy là duy nhất. Thất vọng, hoàng tử bé nằm xuống cỏ và khóc rồi một chú cáo mà hoàng tử nhận là người bạn thực thụ đa dạy cho hoàng tử bé hiểu rằng bông hoa của chàng là duy nhất. Bởi chính cậu đã chăm sóc, tưới nước, bắt sâu cũng như dùng lồng kính bảo vệ nàng.
Viên phi công chính là người ở bên cạnh cậu lâu nhất, lắng nghe câu chuyện của cậu nhiều nhất. Khi cả 3 rơi vào tình trạng thiếu nước trầm trọng, hoàng tử bé đã nhờ con rắn độc cắn mình để trút bỏ lại thân xác cũng như trở về hành tinh B612.
Đọc hết những con chữ trong cuốn sách, có thể nhận ra được rằng ý nghĩa cuối cùng tác giả muốn nhắn gửi tới ai đã và đang đọc cuốn sách này: Nếu muốn thực sự có được thứ gì đó bạn phải yêu thương nó bằng cả trái tim. Khi nhìn lại sự việc bằng con mắt của tình thương ta sẽ nhận ra có những điều thật giản đơn nhưng lại không dễ phát hiện. Mỗi người sẽ có một cây hoa của riêng mình, một ngôi sao của riêng mình, không giống ai
Bài tham khảo 9: Chủ đề (2)
Tiểu thuyết “Tiếng chim hót trong bụi mận gai” xuất bản hồi mùa xuân 1977 cùng một lúc ở New York, San Francisco, London và Sydney. Ít lâu sau nó được dịch ra bảy thứ tiếng, được bạn đọc nhiệt liệt hoan nghênh và giới phê bình đánh giá cao. Suốt mấy năm trời, nó là tác phẩm ăn khách nhất ở phương Tây. Điều đó cũng là công bằng, vì đây thực sự là một tác phẩm đặc sắc, có giá trị trong văn học phương Tây hiện nay.
Một điều đặc sắc nữa là tác giả của nó - Colleen McCullough không phải là nhà văn chuyên nghiệp, trước đó hầu như không ai biết tiếng. Khi tiểu thuyết Tiếng chim hót trong bụi mận gai đem lại vinh dự cho tác giả thì McCullough vẫn chỉ là một nhân viên y tế bình thường. Bà sinh ra ở Úc, bang New South Wales, trong gia đình một công nhân xây dựng xuất thân từ Ireland. Thời thanh xuân McCullough ở Sydney, đã từng học trường của nhà thờ Công giáo, từ bé đã mơ ước trở thành bác sĩ, nhưng không có điều kiện để qua đại học Y. Bà đã thử làm một số nghề - làm báo, công tác thư viện, dạy học, rồi trở lại nghề Y, qua lớp đào tạo chuyên môn về sinh lý học thần kinh. Sau đó, bà đã làm việc tại các bệnh viện ở Sydney, London, Birmingham, rồi sang Mỹ, làm việc tại một trường Y thuộc trường đại học Yale. Năm 1974 bà viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên, không có tiếng vang gì hết. Tiếng chim hót trong bụi mận gai được thai nghén trong ngót bốn năm, rồi đầu mùa hè 1975, bà bắt tay vào viết liền một mạch trong mười tháng. Suốt thời gian ấy, bà vẫn bận túi bụi công việc ở bệnh viện, chỉ viết tác phẩm vào ban đêm và ngày chủ nhật.
Tác phẩm này có thể gọi là “Saga về gia đình Cleary”. Saga là hình thức văn xuôi cổ có tính chất anh hùng ca, kể chuyện một cách điềm đạm về những con người hùng dũng. Cuốn tiểu thuyết này viết về lịch sử của nửa thế kỷ của ba thế hệ một gia đình lao động - gia đình Cleary. Loại tiểu thuyết lịch sử gia đình từ trước đã có những thành công lớn như thiên sử thi vè dòng họ Foocsaito của Gonsuocthy, “Gia đình Thibaults” của Roger Martin du Gard, “Gia đình Artamonov” của M. Gorky. Đặc điểm chung của các tác phẩm đó là số phận gia đình tiêu biểu cho số phận của giai cấp tư sản, nó phản ánh sự phát triển và suy tôn của giai cấp tư sản, các thế hệ sau đoạn tuyệt với nền tảng truyền thống của gia đình. So sánh với những tác phẩm trên thì tác phẩm của McCullough có sự khác biệt, có cái độc đáo riêng của nó. Trước hết, đây là lịch sử của một gia đình lao động. Sự phát triển tính kế thừa và đổi mới của ba thế hệ gia đình này là hình mẫu thu nhỏ của lịch sử dân tộc. Các thế hệ sau kế thừa những nét tốt đẹp nhất của gia đình - tính cần cù, tự chủ, tính kiên cường đón nhận những đòn ác liệt của số phận, lòng tự hào gia đình, song đồng thời có những đổi khác nhịp bước với thời đại. Nếu Fiona gan góc chịu đựng mọi tai họa nhưng cam chịu số phận thì con gái bà là Meggie đã tìm cách cướp lấy hạnh phúc của mình từ tay Chúa Trời, và Justine, con gái của Meggie là một cô gái hiện đại, có những chuẩn mực đạo đức hoàn toàn khác. Cuốn tiểu thuyết xây dựng như truyện sử biên gia đình, tác giả tập trung vào những xung đột tâm lý - đạo đức nhiều hơn là những vấn đề giai cấp - xã hội. Các nhân vật tuy vẫn chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, nhưng chủ yếu là ứng xử theo tính cách riêng của mình nhiều hơn. Trong số nhiều nhân vật, nổi bật hơn cả là ba nhân vật - Fiona, Meggie, con gái bà và cha đạo Ralph de Bricassart. Meggie có thể coi là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Trong tiểu thuyết có nhiều tuyến tình tiết, nhiều môtíp, đề tài, song tất cả đều phục vụ câu chuyện chính: mối tình lớn lao trong sáng của Meggie và cha de Bricassart.
Trong tác phẩm quy mô lớn này, những xung đột tâm lý - tinh thần của các nhân vật quyện chặt với sự miêu tả tỉ mỉ toàn cảnh lịch sử, địa lý, thiên nhiên. Thiên nhiên bao la, dữ dội nhưng có cái đẹp hoang sơ riêng của nó như hiện ra trước mắt bạn đọc. Giá trị nhận thức của tác phẩm do đó càng thêm đầy đủ. Mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người ở đây mang tính chất chung sống hài hòa, thiên nhiên chưa bị uy hiếp đến nguy cơ hủy diệt.
Tính hiện thực và tính lãng mạn trong tác phẩm này hòa lẫn vào nhau tới mức nhuần nhị. Sự miêu tả tỉ mỉ bằng hình thức của bản thân đời sống, cả từ cách ăn mặc, lời ăn tiếng nói của nhân vật, cho đến cách xén lông cừu, nếp sống hàng ngày..., lối kể chuyện thong thả theo trình tự thời gian khiến cho tác phẩm gần với loại tiểu thuyết hiện thực thế kỷ 19. Nhưng những tính cách phi thường rực rỡ biểu hiện trong những biến cố đột ngột, đầy hấp dẫn tạo nên màu sắc lãng mạn rất rõ nét. Môt tác phẩm văn học Mỹ thời nay xa lạ với những cảnh hung bạo, với “sex”, với “phản nhân vật” đưa bạn đọc trở về với những vấn đề “nhà” (theo nghĩa quê hương), “cội nguồn”, “cha và con” mà lại được ham chuộng như thế ở phương Tây thì đó chứng tỏ những vấn đề muôn thuở của nhân loại bao giờ cũng làm rung động lòng người ở bất cứ nơi nào trên hành tinh chúng ta.
Bài tham khảo 10: Chủ đề (2)
“Chuyện con mèo dạy hải âu bay” của nhà văn người Chi-lê là Lu-i Xe-pun-ve-da có tất cả là mười một chương. Nội dung của cuốn sách kể về việc chú mèo mun Gióc-ba nuôi dưỡng một con chim hải âu tên là Lắc-ki. Mẹ của Lắc-ki bị ngộ độc váng dầu nên đã chết ngay sau khi để trứng. Tình cờ chứng kiến cái chết của hải âu mẹ, Gióc-ba đã hứa ba điều: ấp quả trứng, bảo vệ và nuôi lớn hải âu con, dạy nó bay.
Sau một thời gian sống với họ nhà mèo, Lắc-ki lớn nhanh như thổi. Gióc-ba đã nhờ họ nhà mèo tìm cách dạy Lắc-ki biết bay. Nhưng nó không thích bay, cũng không thích làm mèo. Một buổi chiều, Lắc-ki đến cửa tiệm tạp hóa thì đụng độ phải con đười ươi Mét-thiu. Nó chê Lắc-ki là bẩn thỉu, và họ nhà mèo nuôi Lắc-ki để ăn thịt. Lắc-ki trở về buồn bã. Sau khi Gióc-ba biết chuyện liền giải thích rõ cho Lắc-ki hiểu mọi chuyện. Cuối cùng, họ nhà mèo đã bàn bạc để đưa đến quyết định sẽ nhờ con người giúp đỡ dạy Lắc-ki biết bay. Câu chuyện kết thúc khi Lắc-ki đã học được cách bay.
Với “Chuyện con mèo dạy hải âu bay”, Lu-i Xe-pun-ve-da đã giúp người đọc nhận thấy sự chân thành là hương vị quan trọng để cuộc sống ý nghĩa hơn. Đồng thời khi chúng ta biết chấp nhận sự khác biệt sẽ đem lại hạnh phúc cho mình và cả những người bên cạnh. Bắt đầu bằng một lời hứa, nhưng chính trái tim nhân hậu của chú mèo Gióc-ba đã làm lay động trái tim của biết bao độc giả. Khi đọc từng trang sách, chúng ta đã cùng trải qua nhiều cung bậc cảm xúc lẫn lộn: vui vẻ, buồn bã, tức giận đến hồi hộp, hạnh phúc của những nhân vật trong truyện. Không chỉ vậy, một thế giới của loài vật hiện lên thật sự sinh động, thú vị khiến cho người đọc không thể rời mắt khỏi trang sách.