Giới thiệu về một hiện tượng tự nhiên mà em yêu thích.

Tổng hợp những bài văn, đoạn văn hay nhất trong chương trình học của Ngữ văn 8 cánh diều. Phần tổng hợp dưới đây là ngữ liệu tham khảo giúp học sinh biết cách tìm ý, diễn đạt câu văn, chắt lọc từ ngữ và hình thành ý tưởng trong quá trình làm bài. Mời các em cùng tham khảo: Giới thiệu về một hiện tượng tự nhiên mà em yêu thích.

Nội dung chi tiết

Đề tài: Giới thiệu về một hiện tượng tự nhiên mà em yêu thích.

Dàn ý: Giới thiệu về một hiện tượng tự nhiên mà em yêu thích

I. Mở bài:

- Giới thiệu về hiện tượng tự nhiên mà em yêu thích.

- Nêu lý do tại sao em lại yêu thích hiện tượng này.

II. Thân bài:

1. Mô tả chi tiết về hiện tượng tự nhiên mà em yêu thích:

- Đặc điểm, đặc trưng của hiện tượng.

- Những biểu hiện, diễn biến của hiện tượng.

- Những thông tin, kiến thức khoa học về hiện tượng.

2. Giải thích lý do tại sao em yêu thích hiện tượng này:

- Sự hấp dẫn, thu hút của hiện tượng.

- Ý nghĩa, giá trị của hiện tượng đối với cuộc sống.

- Cảm xúc, trải nghiệm khi quan sát, tìm hiểu về hiện tượng.

III. Kết bài:

- Tổng kết lại những điểm chính về hiện tượng tự nhiên mà em yêu thích.

- Chia sẻ mong muốn của em về việc bảo vệ và gìn giữ hiện tượng này.

Bài tham khảo 1: Hiện tượng cầu vồng sau cơn mưa

Có lẽ không ai trong chúng ta lại không yêu thích cầu vồng - một trong những hiện tượng tự nhiên đẹp nhất trên Trái Đất. Với sự kỳ ảo và sắc màu rực rỡ, cầu vồng luôn khiến người ta phải trầm trồ khen ngợi và tìm hiểu về nó.

Cầu vồng là hiện tượng quang học tự nhiên xảy ra khi ánh sáng mặt trời chiếu qua các giọt nước mưa trong không khí. Khi ánh sáng xuyên qua các giọt nước, nó sẽ bị khúc xạ và phân tách thành các màu sắc khác nhau, tạo thành một cung vòng tròn trên bầu trời. Các màu sắc của cầu vồng bao gồm: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm và tím, được sắp xếp theo thứ tự phổ ánh sáng. Đây là một hiện tượng tự nhiên vô cùng kỳ ảo và đẹp mắt, khiến người ta không khỏi ngỡ ngàng và thích thú khi được chứng kiến.

Với tôi, cầu vồng là một hiện tượng tự nhiên vô cùng xinh đẹp và hấp dẫn. Những lần được nhìn thấy cầu vồng sau cơn mưa, tôi luôn cảm thấy vô cùng phấn khích và hạnh phúc. Không chỉ đẹp mắt, cầu vồng còn mang lại cho tôi một cảm giác thanh bình, tươi mới và lạc quan về cuộc sống. Nó như một món quà thiên nhiên dành tặng cho chúng ta, khiến tôi luôn cảm thấy biết ơn và muốn bảo vệ, gìn giữ hiện tượng tự nhiên này.

Cầu vồng không chỉ đẹp với bảy màu sắc rực rỡ, mà còn mang ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống. Nó là biểu tượng của sự kết nối, hòa hợp giữa trời và đất, giữa ánh sáng và mưa. Cầu vồng cũng được xem là biểu tượng của hòa bình, hy vọng và sự đa dạng. Chính vì vậy, tôi luôn cảm thấy rất may mắn và biết ơn khi được chiêm ngưỡng cầu vồng, một hiện tượng tự nhiên vô cùng đẹp đẽ và ý nghĩa này.

Bài tham khảo 2: Hiện tượng hoạt động của núi lửa

Núi lửa là một vết đứt gãy trên lớp vỏ của một hành tinh, như là Trái Đất cho phép dung nham, tro núi lửa, và khí thoát ra từ một lò magma ở dưới bề mặt.

Núi lửa trên Trái Đất xảy ra vì lớp vỏ của nó được chia thành 7 mảng kiến tạo lớn, cứng rắn nổi trên lớp phủ nóng hơn và mềm hơn. Do đó, trên Trái Đất, núi lửa thường xuất hiện những ranh giới giữa các mảng kiến tạo, và hầu hết là ở dưới nước. Ví dụ, một sống núi giữa đại dương, như là sống núi giữa Đại Tây Dương, có núi lửa do các mảng kiến tạo phân kỳ, trong khi vành đai lửa Thái Bình Dương có núi lửa do các mảng kiến tạo hội tụ. Núi lửa cũng có thể hình thành nơi các mảng kiến tạo kéo dài và mỏng đi, ví dụ như ở đới tách giãn Đông Phi hay cánh đồng núi lửa Wells Gray-Clearwater và đới tách giãn Rio Grande tại Bắc Mỹ. Loại hoạt động núi lửa này thuộc "thuyết mảng". This type of volcanism falls under the umbrella of "plate hypothesis" volcanism. Hoạt động núi lửa không gần ranh giới mảng kiến tạo cũng có xuất hiện, và được giải thích là các chùm manti. Những "điểm nóng", ví dụ như Hawaii, được cho là hình thành từ nếp trồi với magma dâng lên từ ranh giới lớp lõi – lớp phủ, sâu 3,000 km trong lòng Trái Đất. Núi lửa thường không được tạo ra khi hai mảng kiến tạo trượt lên nhau.

Núi lửa phun trào có thể tạo nên nhiều mối nguy hiểm, không chỉ trong khu vực lân cận của vụ phun trào. Một mối đe dọa là tro núi lửa, ảnh hưởng xấu đến máy bay, đặc biệt là những loại có động cơ phản lực, có thể làm nóng chảy những hạt tro, sau đó tro nóng chảy sẽ dính vào cánh tua bin và thay đổi hình dạng, làm hỏng tua bin. Những vụ phun trào lớn có thể thay đổi nhiệt độ bởi tro và những giọt axit sulfuric che mờ mặt trời và làm tầng khí quyển thấp (tầng đối lưu); tuy nhiên, chúng cũng hấp thụ nhiệt lượng tỏa ra từ Trái Đất, làm ấm lớp khí quyển cao hơn (tầng bình lưu). Trong quá khứ, mùa đông núi lửa đã gây ra những nạn đói trên diện rộng.

Bài tham khảo 3: Hiện tượng nguyệt thực

Cùng với nhật thực, nguyệt thực cũng là một hiện tượng tự nhiên thú vị, được nhiều người yêu thích và mong chờ.

Hiện tượng nguyệt thực xảy ra khi Trái Đất, Mặt Trời và Mặt Trăng nằm trên cùng một đường thẳng, trong đó Trái Đất nằm ở giữa. Ngoài ra, hiện tượng này còn cần một điều kiện quan trọng không kém đó là nó chỉ có thể xảy ra vào những ngày trăng tròn mà thôi. Lúc này, toàn bộ ánh sáng Mặt Trời sẽ bị bóng của Trái Đất che khuất, khiến Mặt Trăng không nhận được ánh sáng Mặt Trời và không thể phản chiếu lại bất kì ánh sáng nào cả. Đó chính là cách mà nguyệt thực diễn ra.

Mỗi lần xuất hiện, nguyệt thực có thể kéo dài trong vài giờ và có thể nhìn từ bất kì vị trí nào trên Trái Đất. Đặc biệt, con người có thể thoải mái quan sát hiện tượng này bằng mắt thường mà không lo bị ảnh hưởng. Đó là những ưu điểm của hiện tượng này so với nhật thực.

Hiện tượng nguyệt thực được chia thành hai loại dựa vào diện tích Mặt Trăng bị Trái Đất che khỏi tia sáng Mặt Trời. Nếu Mặt Trăng nằm hoàn toàn trong vùng tối của Trái Đất thì khi đó ánh trăng sẽ chuyển sang màu đỏ đồng hoặc cam sẫm, gọi là nguyệt thực toàn phần. Nếu Mặt Trăng chỉ nằm trong vùng tối Trái Đất một phần, phần còn lại vẫn tiếp nhận tia sáng Mặt Trời, thì ta có thể nhìn thấy bóng của Trái Đất màu đen hoặc đỏ sẫm che khuất một phần Mặt Trăng, gọi là nguyệt thực một phần. Trong đó, hiện tượng nguyệt thực một phần sẽ xuất hiện trước hoặc sau khi xảy ra nguyệt thực toàn phần.

Màu sắc của nguyệt thực tạo ra cho mặt trăng đã trở thành điểm nhấn của hiện tượng tự nhiên này. Nó thu hút nhiều người cùng xem và chụp ảnh lưu niệm. Đồng thời, vì màu đỏ đặc trưng mà hiện tượng này còn được nhiều người cho rằng là tín hiệu của một điều gì đó sắp xảy đến.

Bài tham khảo 4: Hiện tượng cực quang

Cực quang là hiện tượng tự nhiên không hiếm gặp nhưng nó lại không bao giờ diễn ra ở Việt Nam. Vì sao lại vậy? Hiện tượng này có gì đặc biệt? Trong bài viết này, mình sẽ giới thiệu cho các bạn về cực quang.

Trái Đất chính là một thanh nam châm khổng lồ, nó có các từ trường với hai đầu hút là cực Bắc và cực Nam địa lí. Tầng khí quyển phải chịu những chùm tia có năng lượng cao từ vũ trụ nên xuất hiện rất nhiều các điện tích tự do. Dưới tác dụng của từ trường Trái Đất, chúng sẽ chuyển động về hai cực Bắc và Nam. Các điện tích này sẽ kết hợp với các phần tử khác trong không khí tạo ra các ánh sáng màu xanh, tím, vàng khác nhau. Đây chính là cực quang.

Khi ngắm nhìn cực quang, ta nhận thấy nó gồm rất nhiều những tia sáng màu sắc đổ dọc xuống, chuyển động liên tục như dải lụa bay dập dờn trên nền trời đêm. Đây là một hình ảnh đẹp, rực rỡ, khó tin, cũng chính là món quà mà mẹ thiên nhiên ban tặng cho con người.

Bởi vì tác động của từ trường, hiện tượng này chỉ xuất hiện ở các hai cực Bắc và cực Nam trên Trái Đất, tương ứng với các đất nước như: Phần Lan, Thụy Điển, Canada, Na Uy,... Thời gian xem cực quang thường là giữa tháng 9 và tháng 4. Các nước phương Tây thường có đêm ngắn ngày dài, vậy nên ta nên ngắm nhìn bầu trời vào khoảng từ 9h tối đến 3h sáng vì trời đêm lúc này đủ tối để ta thấy những dải tia sáng.

Ngoài Trái Đất, các hành tinh khác như Sao Hỏa, Sao Thổ, Sao Mộc, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương đều có cực quang. Trên những hành tinh này đều có từ trường, chúng được tương tác với các hạt trong gió mặt trời, tạo nên hiện tượng kì thú.

Cực quang là hiện tượng thiên nhiên tuyệt đẹp mà ta nên ngắm nhìn một lần trong đời. Các bạn có thể du lịch đến những đất nước trên để trực tiếp thưởng thức khung cảnh này. Hoặc, khi chưa có điều kiện, chúng ta có thể xem các video trên internet để hiểu thêm về cực quang nhé.

Bài tham khảo 5: Hiện tượng nhật thực

Một trong những hiện tượng tự nhiên vô cùng lý thú mà chúng ta vẫn được nghe thấy hoặc chứng kiến trong tự nhiên chính là nhật thực. Tuy nhiên không phải ai cũng biết nhật thực là gì cũng như nguyên lý xảy ra hiện tượng này.

Có thể hiểu nhật thực là hiện tượng mặt trời bị che khuất hoàn toàn hoặc một phần bởi mặt trăng khi chúng cùng nằm trên một đường thẳng với Trái Đất. Trong khi mặt trăng di chuyển qua mặt trời, nó sẽ che phủ mặt trời và làm cho nó trở nên tối hơn. Nhật thực xảy ra khi Mặt Trăng nằm giữa Trái Đất và Mặt Trời, và mặt trăng che khuất hoàn toàn hoặc một phần của mặt trời từ quan sát trên Trái Đất.

Ta có thể phân loại nhật thực ra làm 3 các như sau:

Nhật thực toàn phần: Khi mặt trăng, mặt trời và trái đất thẳng hàng với nhau. Đồng thời mặt trăng ở gần trái đất nên che phủ hoàn toàn mặt trời.

Nhật thực một phần: Khi mặt trăng, mặt trời và trái đất không hoàn toàn thẳng hàng với nhau. Lúc này mặt trăng chỉ có thể che khuất một phần mặt trời.

Nhật thực hình khuyên: Khi mặt trăng, mặt trời và trái đất nằm thẳng hàng với nhau nhưng do mặt vị trí của mặt trăng khá xa trái đất nên không thể che khuất được hết mặt trời mà chỉ tạo ra hình tròn màu đen ở giữa.

Nhật thực lai: Nhật thực lao bao gồm nhật thực toàn phần và nhật thực hình khuyên. Khi nhật thực lai xảy ra, một số vùng trên Trái Đất sẽ quan sát được pha toàn phần, một số vùng khác sẽ quan sát được pha hình khuyên, một số nơi khác nữa chỉ thấy được một phần.

Có thể thấy đây là một hiện tự nhiên rất thú vị. Nhật thực không hề mang đến điềm xui cho con người như những quan niệm cổ đại. Tuy nhiên để quan sát hiện tượng tự nhiên này một cách an toàn, các bạn nhớ bảo vệ mắt một đúng cách nhé.

Bài tham khảo 6: Hiện tượng nhà kính

Hiệu ứng nhà kính diễn ra khi khí quyển chứa khí đã hấp thụ tia cực quang. Hơi nóng từ mặt trời xuống Trái Đất đã bị giữ lại ở tầng đối lưu, tạo ra hiệu ứng nhà kính ở bề mặt các hành tinh hoặc các Vệ tinh. Cơ cấu hoạt động này không khác nhiều so với một nhà kính (dùng để cho cây trồng) thật, điều khác biệt là nhà kính (cây trồng) có các cơ cấu cách biệt hơi nóng bên trong để giữ ấm không bị mất qua quá trình đối lưu. Hiệu ứng nhà kính được khám phá bởi nhà khoa học Joseph Fourier vào năm 1824, thí nghiệm đầu tiên có thể tin cậy được là bởi nhà khoa học John Tyndall vào năm 1858, và bản báo cáo định lượng kĩ càng được thực hiện bởi nhà khoa học Svante Arrhenius vào năm 1896. Một ví dụ về Hiệu ứng nhà kính làm cho nhiệt độ của không gian bên trong của một nhà trồng cây làm bằng kính tăng lên khi Mặt Trời chiếu vào. Nhờ vào sức ấm này mà cây có thể đâm chồi, ra hoa và kết trái sớm hơn. Ngày nay người ta hiểu khái niệm này rộng hơn, dẫn xuất từ khái niệm này để miêu tả hiện tượng nghẽn nhiệt trong bầu khí quyển của Trái Đất được Mặt Trời chiếu sáng là hiệu ứng nhà kính khí quyển. Trong hiệu ứng nhà kính khí quyển, phần được đoán là do tác động của loài người gây ra được gọi là hiệu ứng nhà kính nhân loại (gia tăng). Hiện nay thế kỷ thứ 21 loài người đang phải đối mặt với tình trạng ấm lên do con người gây ra, tuy nhiên vấn đề vẫn đang được tranh cãi, gây ra nhiều tác hại nguy hiểm.

Các vật đen có nhiệt độ từ Trái Đất khoảng 5.5 °C. Từ khi bề mặt Trái Đất phản lại khoảng 28% ánh sáng mặt trời, nếu không có hiệu ứng nhà kính thì nhiệt độ có thể rất thấp khoảng -18 hoặc -19 °C thay vì nhiệt độ có thể cao hơn là khoảng 14 °C.

Hiệu ứng nhà kính, xuất phát từ effet de serre trong tiếng Pháp, do Jean Baptiste Joseph Fourier lần đầu tiên đặt tên, dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng lượng bức xạ của tia sáng mặt trời, xuyên qua các cửa sổ hoặc mái nhà bằng kính, được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt lượng cho bầu không gian bên trong, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong chứ không phải chỉ ở những chỗ được chiếu sáng.

Hiệu ứng này đã được sử dụng từ lâu trong các nhà kính trồng cây. Ngoài ra hiệu ứng nhà kính còn được sử dụng trong kiến trúc, dùng năng lượng mặt trời một cách thụ động để tiết kiệm chất đốt sưởi ấm nhà ở.

Bài tham khảo 7: Hiện tượng thủy triều đỏ

Thủy triều đỏ là cách gọi thông thường, nhưng các nhà khoa học thường gọi là hiện tượng nở hoa của tảo ở biển.

Hiện tượng tảo nở hoa (có tài liệu còn gọi là hiện tượng nở hoa của nước) gây ra bởi các loài vi tảo và vi khuẩn lam sống trong nước biển hoặc nước ngọt khi chúng phát triển rất nhanh, bùng phát quá mức về mật độ tế bào hoặc sinh khối. Hiện tượng tảo nở hoa xảy ra cả ở biển và nước ngọt, khi xảy ra ở biển thì gọi là thủy triều đỏ. Tảo nở hoa có thể sống ở bề mặt nước hoặc ở tầng đáy.
Đặc biệt, những thực vật phù du và sinh vật nguyên sinh đơn bào, các sinh vật như thảo mộc có thể hình thành những đám dày đặc, các vết có thể nhìn thấy ở gần bề mặt nước. Một số loài thực vật phù du, tảo chứa sắc tố quang hợp khác nhau về màu sắc từ xanh sang nâu đỏ.
Khi mật độ tảo tập trung cao, nước sẽ đổi màu hay xỉn lại, từ tím đến gần như màu hồng, thường là màu đỏ hoặc màu xanh lá cây. Không phải tất cả việc nở rộ tảo đều dày đặc đủ để làm cho nước đổi màu, và không phải tất cả những nước đổi màu có liên quan đến nở rộ tảo đều đỏ.

Hiện tượng tảo nở hoa có thể do các loài tảo có độc tố và các loài không có độc tố. Khi các tảo độc nở hoa, chúng tiết ra các độc tố thuộc về 3 nhóm: nhóm độc tố gan, nhóm độc tố thần kinh, nhóm độc tố gây tiêu chảy. Chúng không chỉ gây độc cho các sinh vật sống trong nước như cá, giáp xác, động vật thân mềm, động vật có vú ở biển (như cá voi, sư tử biển)… mà còn gây độc cho cả một số loài chim, cho con người khi ăn phải thủy sản bị nhiễm độc, khi tiếp xúc hoặc uống phải nguồn nước bị nhiễm độc.
Các độc tố có thể ảnh hưởng tới không khí, gây khó thở. Ngoài việc tạo ra các độc tố, chúng còn làm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước do chuyển màu, có mùi tanh khó chịu, hàm lượng oxy giảm đột ngột do phân hủy một lượng sinh khối lớn.Tảo không độc khi nở hoa cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng nước khi lượng sinh khối lớn của chúng bị chết và phân hủy.
Tóm lại, hiện tượng nở hoa của tảo, đặc biệt là tảo độc gây tác hại tới hệ sinh thái biển, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đối với con người, gây thiệt hại cho ngành kinh tế khai thác, nuôi trồng thủy sản.
Thực tế, không phải đợt bùng phát tảo biển nở hoa nào cũng có hại. Chúng có thể có lợi vì là thức ăn cho sinh vật trong đại dương.
Theo một cuốn sách của ông Kin-Chung Ho, Đại học Mở Hong Kong, sự xuất hiện của thủy triều đỏ ở một số địa điểm dường như là hoàn toàn tự nhiên, do sự chuyển động của các dòng hải lưu nhất định. Tuy nhiên, hiện tượng này cũng có thể do phú dưỡng hóa nguồn nước - thải quá nhiều vào nước chất dinh dưỡng như nitrat hay phốt phát từ hoạt động nông nghiệp hay hiện tượng nước trồi - dòng nước lạnh đặc và nhiều dinh dưỡng di chuyển từ phía sâu lên bề mặt đại dương, thay thế dòng nước nóng hơn.
Thủy triều đỏ đã xảy ra ở nhiều nước: Hoa Kỳ, Brasil, Úc, Philippines, Trung Quốc, Anh, Malaysia…và gây ra nhiều thiệt hại.
Năm 1968, tại Anh có 78 trường hợp người bị ngộ độc do ăn sò xanh nhiễm độc tố của tảo Alexandrium tamarense. Tính đến năm 1995, tại Philippines đã có 1422 người bị ngộ độc do ăn cá nhiễm độc tảo Pyrodinium bahamense var compressum và 82 người trong số này đã tử vong. Năm 1998, một loài tảo mới xuất hiện ở vùng biển Hong Kong đã gây ra thuỷ triều đỏ, ảnh hưởng đến 20 trong tổng số 26 khu vực nuôi cá, hủy hoại hơn 80 % trữ lượng cá thường xuyên. Năm 2013, hai người Malaysia đã chết do ăn cá nhiễm tảo độc từ thủy triều đỏ ở bờ biển đảo Borneo.
Tất cả các bang ven biển của Hoa Kỳ đều bị thủy triều đỏ và chịu nhiều thiệt hại do thủy triều đỏ gây ra, đặc biệt là ở New England, Florida, khu vực gần Vịnh Mexico… Thiệt hại do thủy triều đỏ gây ra đối với nuôi trồng, khai thác thủy sản, du lịch lên tới hàng chục triệu đô la.
Tại Việt Nam, hiện tượng thủy triều đỏ cũng đã xảy ra ở nhiều nơi. Tuy nhiên, khu vực biển Bình Thuận là nơi có tần suất nở hoa của vi tảo cao nhất, hiện tượng này. Tháng 6 - 7/2014, thủy triều đỏ tạo nên các trận bọt biển màu đỏ vàng ở bãi biển Mũi Né – Hòn Rơm (Phan Thiết, Bình Thuận). Xác cá và nhiều động vật, rong tảo biển dạt vào và phân hủy, bốc mùi hôi thối gây ô nhiễm môi trường. Cư dân ở đây cho biết hiện tượng thủy triều đỏ thường xuất hiện ở vùng biển này vào tháng 6 hàng năm.
Đồng thời, nghề sản xuất giống thủy sản và nuôi lồng các loài tôm hùm, cá mú cũng thải ra môi trường một lượng dinh dưỡng đáng kể cũng là một điều kiện kích thích sự nở hoa. Hiện tượng nở hoa nước thường xảy ra trong các hồ nước ngọt và các ao nuôi thủy sản. Hiện tượng tảo nước ngọt nở hoa cũng đã gặp ở Hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội), hồ Xuân Hương (thành phố Đà Lạt) và gần đây, trong tháng 4/2016 tại sông Ba, đoạn chảy qua xã Chư Ngọc huyện Krông Pa, Gia Lai.
Theo các nhà khoa học, hiện tượng thủy triều đỏ và nở hoa nước là một trong những vấn đề cấp bách cần được quan tâm nghiên cứu cụ thể, lâu dài như: Về quy luật phát sinh và lan truyền của hiện tượng thủy triều đỏ và nở hoa nước; về sinh thái phát triển và sản sinh độc tố của một số loài vi tảo kể cả các loài đang hình thành có khả năng nở hoa. Trên cơ sở đó, có sự cảnh báo để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đồng thời đánh giá đầy đủ về những thiệt hại mà nó gây ra.