Trắc nghiệm đúng sai KTPL 11 kết nối: Bài 10 Bình đẳng giới trong các lĩnh vực

Phiếu trắc nghiệm đúng/sai Giáo dục Kinh tế và Pháp luật 11 kết nối tri thức: Bài 10 Bình đẳng giới trong các lĩnh vực. Bộ câu hỏi trong phiếu trắc nghiệm giúp học sinh vừa ôn tập các kiến thức đã học vừa tiếp cận với dạng bài tập mới. Các câu hỏi có độ khó tăng dần đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ thật kĩ trước khi lựa chọn đáp án. Tài liệu có thể tải về và chỉnh sửa.

Nội dung chi tiết

BÀI 10. BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CÁC LĨNH VỰC

Câu 1. Cho các thông tin sau:

“Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội khóa XIII (2011-2016) đạt 24,4%, đưa Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực và thế giới (đứng thứ 43/143 nước trên thế giới và thứ 2 trong ASEAN). Phụ nữ đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt của đất nước như Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng; 14/30 Bộ hoặc cơ quan trực thuộc Chính phủ có Thứ trưởng là nữ. Ở các địa phương, nhiều phụ nữ giữ vai trò chủ chốt ở các cấp, các ngành, góp phần giải quyết các vấn đề quan trọng. Nữ doanh nhân là người dân tộc thiểu số tăng, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số được phát huy.

Hiện nay, tỷ lệ lao động có việc làm là nữ giới chiếm 49%. Tính đến hết năm 2011, tỷ lệ phụ nữ biết chữ là 92%; khoảng 80% trẻ em gái ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số được đi học đúng tuổi. Tỷ lệ nữ sinh viên chiếm trên 50%, tỷ lệ thạc sỹ là nữ chiếm hơn 30% và 17,1% tiến sỹ là nữ giới.

Nỗ lực bảo đảm bình đẳng giới của Việt Nam đã được quốc tế ghi nhận, theo xếp hạng năm 2012 của Liên hợp quốc về chỉ số bất bình đẳng giới, Việt Nam xếp thứ 47/187 quốc gia, so với vị trí 58/136 quốc gia năm 2010 (thứ hạng càng gần 0 càng thể hiện sự bình đẳng cao)...”

(Trích bài viết: Bình đẳng giới ở Việt Nam: Thành tựu và thách thức, Cổng TTĐT Bộ Nội vụ)

a) Phụ nữ ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề trọng yếu tại các địa phương và cấp quốc gia.

b) Phụ nữ Việt Nam không có cơ hội học tập và làm việc ngang bằng với nam giới trong các lĩnh vực quan trọng.

c) Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số được phát huy mạnh mẽ, đặc biệt trong các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và giáo dục.

d) Sự tham gia của phụ nữ vào các lĩnh vực chính trị và lãnh đạo tại Việt Nam vẫn bị hạn chế và không được khuyến khích.

Câu 2. Cho các thông tin sau:

“Có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới. Trước hết là tỷ lệ sinh chênh lệch giữa nam và nữ đã khiến mức chênh lệch giới trong độ tuổi lao động tăng, dẫn đến sự bất bình đẳng giới trong lao động. Số lượng người làm công tác bình đẳng giới còn thiếu, cộng với hạn chế về kiến thức giới, kỹ năng lồng ghép giới... nên việc tuyên truyền bình đẳng giới còn hạn chế. Cùng với đó là tỷ lệ nghèo, lạc hậu ở một số vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số làm cho lao động nữ không được đến trường học nên chưa biết chữ, từ đó chưa chủ động tham gia hoạt động xã hội, tham gia các tổ chức xã hội nhằm mang lại sự bình đẳng cho chính mình. Nhiều quan niệm cổ hủ, lạc hậu, trọng nam khinh nữ, phụ nữ chỉ ở nhà quanh quẩn bếp núc, phụ nữ phải lo chuyện gia đình, trẻ em gái không cần học nhiều... còn tồn tại ở nhiều nơi, tạo nên nguy cơ không hoàn thành mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam. Cũng phải khẳng định rằng, nhận thức của một số người, đặc biệt là nam giới, còn thiếu tôn trọng phụ nữ, thiếu tôn trọng những giá trị mà phụ nữ mang lại cho cuộc sống. Trong khi đó, nữ giới vẫn phải đảm đương việc gia đình nhiều hơn nam giới. Đáng nói là còn một bộ phận không nhỏ nữ giới chưa nhận thức đầy đủ về quyền được bình đẳng của mình, chấp nhận chịu bạo hành, chịu sự phân biệt đối xử một cách gần như là hiển nhiên.”

(Trích bài viết: Bình đẳng giới – một tiêu chí của dân chủ, công bằng, văn minh, Cổng TTĐT Bộ Nội vụ)

a) Tình trạng chênh lệch tỷ lệ sinh giữa nam và nữ làm gia tăng bất bình đẳng giới trong độ tuổi lao động, đặc biệt trong cơ hội việc làm và thăng tiến.

b) Nguyên nhân chính gây ra bất bình đẳng giới là do phụ nữ chưa có mong muốn tham gia vào các hoạt động xã hội hoặc các tổ chức xã hội.

c) Nhiều quan niệm cổ hủ, trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại ở một số nơi, gây khó khăn cho việc đạt mục tiêu bình đẳng giới.

d) Hiện nay, mọi phụ nữ đều đã nhận thức đầy đủ về quyền bình đẳng của mình và không còn chấp nhận bạo hành.

Câu 3. Cho các thông tin sau:

“Công ty ABC đang tuyển dụng vị trí Trưởng phòng Kinh doanh. Trong số 5 ứng viên cuối cùng, có chị Nguyễn Thị Mai (35 tuổi, 10 năm kinh nghiệm, đã có gia đình và 2 con nhỏ) và anh Trần Văn Hùng (32 tuổi, 8 năm kinh nghiệm, độc thân).

Trong cuộc họp tuyển dụng, mặc dù công nhận năng lực chuyên môn của chị Mai tốt hơn, nhưng Giám đốc nhân sự đã phát biểu: "Chị Mai có 2 con nhỏ, chắc chắn sẽ thường xuyên xin nghỉ để chăm con ốm đau. Vả lại, vị trí này thường xuyên phải đi công tác xa, làm việc ngoài giờ. Tôi nghĩ nên chọn anh Hùng vì còn độc thân, có thể toàn tâm toàn ý cho công việc". Cuối cùng, công ty đã quyết định chọn anh Hùng.”

a) Công ty có quyền ưu tiên tuyển dụng nam giới cho vị trí quản lý vì họ thường có nhiều thời gian cho công việc hơn phụ nữ có con nhỏ.

b) Việc công ty chọn anh Hùng là hợp lý vì nam giới thường phù hợp với vai trò lãnh đạo hơn và ít bị ràng buộc bởi trách nhiệm gia đình.

c) Việc từ chối tuyển dụng chị Mai vì lý do có con nhỏ là hành vi phân biệt đối xử về giới, vi phạm nguyên tắc bình đẳng giới trong lao động.

d) Công ty cần đánh giá năng lực ứng viên dựa trên kinh nghiệm, trình độ chuyên môn và khả năng thực tế, không phân biệt nam hay nữ, đã có gia đình hay chưa.