Nêu một số dẫn chứng lấy từ lịch sử hoặc từ văn chương cho thấy tinh thần và ý chí về độc lập chủ quyền đã trở thành một truyền thống vẻ vang của dân tộc.

Tổng hợp những bài văn, đoạn văn hay nhất trong chương trình học của Ngữ văn 8 chân trời sáng tạo. Phần tổng hợp dưới đây là ngữ liệu tham khảo giúp học sinh biết cách tìm ý, diễn đạt câu văn, chắt lọc từ ngữ và hình thành ý tưởng trong quá trình làm bài. Mời các em cùng tham khảo: Nêu một số dẫn chứng lấy từ lịch sử hoặc từ văn chương cho thấy tinh thần và ý chí về độc lập chủ quyền đã trở thành một truyền thống vẻ vang của dân tộc.

Nội dung chi tiết

Đề bài: Nêu một số dẫn chứng lấy từ lịch sử hoặc từ văn chương cho thấy tinh thần và ý chí về độc lập chủ quyền đã trở thành một truyền thống vẻ vang của dân tộc.

Bài tham khảo 1:

Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, đã để lại nhiều tác phẩm thơ ca thể hiện tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập. Điển hình là bài "Tuyên ngôn độc lập" năm 1945, tuy không phải là một tác phẩm thơ nhưng đã trở thành một áng văn bất hủ, tuyên bố trước thế giới về quyền tự do và độc lập của dân tộc Việt Nam.

Bài tham khảo 2:

Năm 938, Ngô Quyền đã lãnh đạo quân dân đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, kết thúc hơn một nghìn năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ cho Việt Nam. Chiến thắng Bạch Đằng là một minh chứng lịch sử hùng hồn cho tinh thần yêu nước và khả năng quân sự của dân tộc Việt Nam.

Bài tham khảo 3:

“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi lòng dũng cảm, tinh thần hy sinh của những người nông dân nghĩa sĩ, thể hiện niềm tự hào dân tộc và ý chí quật cường bảo vệ Tổ quốc.

Bài tham khảo 4:

Hịch tướng sĩ là một áng văn chính luận xuất sắc nhằm kêu gọi, khích lệ tinh thần yêu nước, lòng tự tôn, tự trọng và ý chí chống giặc ngoại xâm của các tướng sĩ. Mở đầu bài hịch, Trần Quốc Tuấn nêu những gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách. Tiếp theo Ngài tố cáo sự hống hách và tội ác của kẻ thù để khơi dậy lòng căm thù giặc của tướng sĩ. Ngài còn nói lên mối ân tình giữa chủ soái và tướng sĩ đồng thời Ngài phân tích phải trái, đúng sai, định hướng hàng ngũ quân sĩ và khẳng định những hành động nên làm.

Bài tham khảo 5:

Văn bản “Bình Ngô đại cáo”:

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập

Đến Hán, Đường, Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có.

Để khẳng định tiền đề lý luận vững chắc, Nguyễn Trãi tiếp tục tận dụng chân lý về độc lập dân tộc. Chỉ qua một đoạn thơ ngắn gọn, Nguyễn Trãi đã đưa ra sự đánh giá toàn diện với đầy đủ nhân tố gồm văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán và nhân tài. Trong đoạn này, Nguyễn Trãi đã sử dụng cách diễn đạt sóng đôi để khẳng định “Đại Việt và Trung Hoa là hai dân tộc song song tồn tại”. Những gì đất nước Đại Việt có được không kém gì với bề dày lịch sử của Trung Hoa.

Bài tham khảo 6:

Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi: Đại cáo bình Ngô là bản anh hùng ca bất hủ của dân tộc Việt Nam. Bản cáo này do Lê Lợi giao cho Nguyễn Trãi viết ngay sau khi dẹp xong quân Minh, cuối năm 1427. Bài cáo là phần tổng kết toàn diện cuộc kháng chiến chống xâm lược, trong đó lên án tội ác của quân Minh, kể lại quá trình kháng chiến đầy gian khổ, hi sinh nhưng thắng lợi vẻ vang.

Bài tham khảo 7:

Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam đã nhiều lần đứng lên chống lại các cuộc xâm lược của ngoại bang, như Trung Quốc, Mông Cổ, Pháp, Nhật, Mỹ… Những cuộc kháng chiến đã tạo nên những trang sử hào hùng, như chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, chiến thắng Đông Quan của Trần Hưng Đạo, chiến thắng Điện Biên Phủ của Võ Nguyên Giáp, chiến thắng Đường Kinh của Văn Tiến Dũng…

Trong văn chương, nhiều tác phẩm đã ca ngợi tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập của dân tộc Việt Nam, như bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu, tiểu thuyết “Sống mãi tuổi 17” của Nguyễn Nhật Ánh…

Từ những dẫn chứng trên, ta có thể thấy rằng tinh thần yêu và ý chí về độc lập chủ quyền đã trở thành một truyền thống vẻ vang của dân tộc Việt Nam, được duy trì và phát huy qua các thời kỳ lịch sử. Đó là nguồn động lực để dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn và thử thách, bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ, xây dựng đất nước phát triển và hòa bình.