Viết đoạn văn tưởng tượng dựa vào một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe

Tổng hợp những bài văn, đoạn văn hay nhất trong chương trình học của Tiếng việt 4 kết nối tri thức. Phần tổng hợp dưới đây là ngữ liệu tham khảo giúp học sinh biết cách tìm ý, diễn đạt câu văn, chắt lọc từ ngữ và hình thành ý tưởng trong quá trình làm bài. Mời các em cùng tham khảo: Viết đoạn văn tưởng tượng dựa vào một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe.

Nội dung chi tiết

CHỦ ĐỀ: NIỀM VUI SÁNG TẠO

Viết đoạn văn tưởng tượng dựa vào một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe

Bài tham khảo 1: Đoạn văn tưởng tượng câu chuyện Tấm Cám

Từ nhỏ, em đã được bà kể cho nghe rất nhiều những câu chuyện cổ tích. Nào là Thạch Sanh, Cây khế, Sọ Dừa… Nhưng em thích nhất vẫn là truyện Tấm Cám.

Ngày xưa, có hai chị em cùng cha khác mẹ tên là Tấm và Cám. Tấm chăm chỉ, hiền lành, còn Cám thì lười biếng và hay ghen tị. Sau khi cha mất, Tấm bị mẹ kế và Cám bắt nạt. Một ngày, mẹ kế bảo hai chị em ra đồng bắt tôm tép, ai bắt được nhiều hơn sẽ được thưởng. Tấm bắt được đầy giỏ, nhưng Cám lừa Tấm và đổ hết tôm tép của Tấm vào giỏ của mình. Tấm khóc, ông Bụt hiện ra, bảo nàng thả con cá bống vào giếng để nuôi.

Mẹ kế phát hiện, bắt cá bống làm thịt. Tấm buồn bã, Bụt lại giúp nàng nhặt xương cá, chôn ở bốn góc giường. Khi nhà vua mở hội, mẹ kế bắt Tấm ở nhà nhặt thóc lẫn gạo. Bụt hiện ra, gọi đàn chim sẻ giúp Tấm và tặng nàng bộ váy đẹp cùng đôi giày thần kỳ. Tấm đến hội, đánh rơi một chiếc giày. Nhà vua tìm thấy giày và quyết định ai đi vừa giày sẽ trở thành hoàng hậu. Tấm vừa giày và trở thành hoàng hậu.

Mẹ kế và Cám ganh ghét, lừa Tấm trèo cây cau rồi chặt cây khiến Tấm rơi xuống chết. Tấm hóa thành chim vàng anh, cây xoan đào, rồi khung cửi, cuối cùng là quả thị. Một bà lão mang quả thị về nhà, Tấm bước ra giúp bà lão việc nhà. Sau này bà lão mất, Tấm 1 mình ở trong căn nhà

Vì quá nhung nhớ nhà vua nên Tấm xin vào cung làm cung nữ. Nhà vua tìm thấy Tấm, nhận ra nàng và đưa về cung. Cám và mẹ kế bị trừng phạt, Tấm sống hạnh phúc bên nhà vua mãi mãi.

Câu chuyện "Tấm Cám" chứa đựng nhiều bài học quý giá về cuộc sống, như sự chiến thắng của cái thiện, quy luật nhân quả, và giá trị của lòng kiên nhẫn, nhân ái. "Tấm Cám" không chỉ là một câu chuyện cổ tích mà còn là nguồn cảm hứng để chúng ta sống tốt hơn mỗi ngày.

Bài tham khảo 2: Đoạn văn tưởng tượng câu chuyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh

Sơn Tinh, Thủy Tinh là một trong những truyền thuyết mà em yêu thích nhất. Câu chuyện lấy bối cảnh vào đời Vua Hùng thứ mười tám. Lúc đó, Vua Hùng có một người con gái vừa xinh đẹp lại dịu hiền tên là Mị Nương. Năm cô ấy đến tuổi cập kê, vua cha đã quyết chí tìm cho con gái mình một tấm chồng xứng đáng. Thế là ông đã cho mở hội kén rể.

Trong những thanh niên đến tham gia, nổi bật lên hẳn là hai chàng trai Sơn Tinh và Thủy Tinh. Cả hai đều cao lớn, khôi ngô, lại có nhiều tài phép. Một người có thể dời núi lấp bể, một người lại có thể hô mưa gọi gió. Thi đấu nhiều hiệp, cả hai bên đều ngang sức ngang tài, khiến nhà vua khó lòng lựa chọn. Vì vậy, ông quyết định triệu kiến các quan lại để cùng bàn bạc.

Cuối cùng, nhà vua đã đưa ra cho hai người thử thách cuối cùng: sính lễ. Danh sách sính lễ với các đồ vật quý hiếm khó tìm, rồi lại có số lượng rất lớn. Rồi nhà vua hứa hẹn rằng, ai mang đủ sính lễ đến trước thì sẽ được cưới Mị Nương. Hôm sau, Sơn Tinh có mặt từ sớm với đầy đủ các sính lễ, nên được làm đám cưới với nàng Mị Nương, Sau đó, anh dẫn vợ chuyển về núi Tản Viên sinh sống.

Trên đường về, từ phía sau lưng có nước lũ cuồn cuộn dâng lên theo, đó chính là Thủy Tinh đang đuổi theo. Ấm ức vì chậm chân, không cưới được vợ, nên hắn đã hô mưa gọi gió để trả thù. Nhưng hắn càng dâng nước đến đâu thì Sơn Tinh dâng núi, dựng tường cao đến đó. Sau vài tháng dằng co, Thủy Tinh cạn kiệt sức lực nên đành rút quân.

Từ đó về sau, năm nào Thủy Tinh cũng dâng nước đánh Sơn Tinh, nhưng chẳng lần nào thắng cuộc cả. Truyền thuyết trên, vừa giải thích về hiện tượng bão lũ hằng năm, vừa ngợi ca tinh thần dũng cảm phòng chống bão lũ của nhân dân ta ngày xưa. Nó như một tài liệu quý giá nói về cuộc sống, tư tưởng của ông cha ta thuở xưa.

Bài tham khảo 3: Đoạn văn tưởng tượng câu chuyện Bánh chưng bánh giầy

Ngày xưa ở nước ta, trong số các con của vua Hùng Vương thứ 6, có người con trai thứ 18 tên là Tiết Liêu (còn gọi là Lang Liêu). Tiết Liêu có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ, chăm chỉ hiền lanh, ưa nghề trồng trọt. Chàng đem vợ con về quê vỡ nương, cuốc bãi, cùng với bà con nông dân đổ mồ hôi làm ăn sinh sống.

Một hôm vào dịp cuối năm, vua Hùng Vương cho vời đông đủ các con đến và bảo:

– Đến ngày hội lớn đầu năm, ai tìm được của ngon vật lạ nhất đem đến để tế Tiên Vương thì sẽ được nhường ngôi.

Các hoàng tử tỏa đi khắp bốn phương. Người thì lên rừng đốc thúc bộ hạ săn thú, bắn chim. Kẻ thì xuống biển bắt dân chài mò trai, bắt cá. Riêng Lang Liêu rất băn khoăn lo lắng không biết tìm vật gì dâng lên vua cha.

Một hôm Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: “Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành.”

Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt lại lấy lá dong tươi gói gạo nếp sống, ngâm đỗ xanh làm một thứ bánh hình vuông có màu xanh cây cỏ, có những thứ hạt nuôi sống người, giống như mặt đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là bánh chưng. Và ông đồ xôi thật dẻo, cho vào cối giã thật mịn rồi nặn một thứ bánh hình tròn mịn màng như bầu trời, gọi là bánh dầy. Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng trưng cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái.

Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon vật lạ. Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Giầy và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của bánh dầy bánh chưng. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, ông rất vui mừng và cảm động.

Vua Hùng chọn hai thứ bánh của Tiết Liêu để tế trời đất rồi chia cho các hoàng tử và các quần thần nếm thử. Ai cũng phải khen bánh có vị ngon, hương lạ mà lại có ý nghĩa sâu xa, đúng là của quý nhất trong ngày hội đầu năm để tế trời đất.

Vua Hùng thứ 6 bèn truyền ngôi cho Tiết Liêu, ngài đặt tên cho hai thứ bánh quý: bánh dầy là hình bầu trời, bánh chưng là bánh hình mặt đất.

Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm bánh Chưng và bánh Dầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất. Sự tích Bánh Chưng, Bánh Dầy tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của cây lúa và thiên nhiên trong nền văn hoá lúa nước. Sự tích trên muốn nhắc nhở con cháu về truyền thống hiếu kính; lời giải thích ý nghĩa cũng như nguồn cội của của Bánh Chưng, Bánh Dầy là nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc.