Chọn ba văn bản thuộc các thể loại tùy bút, tản văn, truyện kí,... mà bạn yêu thích; đọc, chỉ ra và phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của từng văn bản.

Tổng hợp những bài văn, đoạn văn hay nhất trong chương trình học của Ngữ văn 11 kết nối tri thức. Phần tổng hợp dưới đây là ngữ liệu tham khảo giúp học sinh biết cách tìm ý, diễn đạt câu văn, chắt lọc từ ngữ và hình thành ý tưởng trong quá trình làm bài. Mời các em cùng tham khảo: Chọn ba văn bản thuộc các thể loại tùy bút, tản văn, truyện kí,... mà bạn yêu thích; đọc, chỉ ra và phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của từng văn bản.

Nội dung chi tiết

Đề bài: Chọn ba văn bản thuộc các thể loại tùy bút, tản văn, truyện kí,... mà bạn yêu thích; đọc, chỉ ra và phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của từng văn bản.

Bài mẫu 1: Nét đặc sắc nghệ thuật trong văn bản “Người lái đò sông Đà”

Văn bản “Người lái đò Sông Đà” của nhà văn Nam Cao là một tác phẩm văn học nổi tiếng trong văn học Việt Nam, nổi bật với những nét đặc sắc nghệ thuật. Nam Cao sử dụng ngôn ngữ sinh động và chi tiết để miêu tả cảnh vật và nhân vật. Thông qua việc miêu tả cuộc sống của người lái đò trên sông Đà, tác giả tạo nên một bức tranh sinh động về cuộc sống miền quê, từ những đoạn sóng trên sông đến những cơn mưa rào chiều chiều buông xuống.

Tác phẩm thể hiện sự hài hòa và tương tác sâu sắc giữa con người và thiên nhiên. Người lái đò không chỉ là một nhân vật mà còn là một phần của cảnh quan sông núi, từ đó thể hiện sự hòa nhập và phản ánh mối quan hệ tình cảm, tâm linh giữa con người và môi trường sống.

Nhân vật người lái đò được xây dựng một cách chi tiết và sắc bén. Từ nghề nghiệp đơn giản, người lái đò trở thành biểu tượng cho sự kiên cường, sự chịu đựng và trí tuệ thông qua những câu chuyện, những mẩu chuyện mà tác giả dệt nên. Điều này giúp tác phẩm có tính nhân văn sâu sắc và dễ chấm dứt.

Tóm lại, "Người lái đò Sông Đà" của Nam Cao không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là một tác phẩm nghệ thuật tinh túy, gợi lên cho độc giả những cảm xúc sâu sắc và những suy ngẫm về cuộc sống và tồn tại con người.

Bài mẫu 2: Nét đặc sắc nghệ thuật trong văn bản “Ai đã đặt tên cho dòng sông”

Văn bản “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một tác phẩm thơ nổi tiếng trong văn học Việt Nam, nổi bật với nhiều nét đặc sắc nghệ thuật. Hoàng Phủ Ngọc Tường sử dụng những hình ảnh về dòng sông để tạo nên một bức tranh hùng vĩ và sâu sắc về quê hương. Dòng sông không chỉ là một phần của cảnh vật mà còn trở thành biểu tượng cho quá trình lịch sử, văn hóa và con người. Việc đặt câu hỏi "Ai đã đặt tên cho dòng sông?" không chỉ đơn thuần là một câu hỏi về sự tên gọi mà còn là một câu hỏi về bản chất, về sự tồn tại và ý nghĩa của sự hiện hữu. Tác giả sử dụng ngôn ngữ tượng trưng một cách tinh tế và phong phú. Các từ ngữ, các hình ảnh trong tác phẩm không chỉ giới hạn trong phạm vi cụ thể mà còn mở rộng ra thành những ý tưởng, những suy nghĩ về sự tồn tại, về sự đổi thay và về cái đẹp của cuộc sống.

“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” không chỉ là một câu hỏi về sự tên gọi mà còn là một câu hỏi về bản chất của sự tồn tại. Tác phẩm khai thác một cách triết học sâu sắc về nhân sinh, về sự trăn trở và về những nỗi buồn, niềm vui của con người trong cuộc sống. Tác phẩm còn gợi lên một tầm nhìn nhân văn sâu sắc, về sự đan xen giữa con người và thiên nhiên. Sông núi, những cánh đồng bao la, những con người chất phác được khắc họa một cách sống động, gần gũi và thân thiết.

Tóm lại, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ là một tác phẩm thơ hay mà còn là một tác phẩm nghệ thuật sâu sắc, gợi lên những suy nghĩ và cảm xúc sâu lắng về cuộc sống, quê hương và con người.

Bài mẫu 3: Nét đặc sắc nghệ thuật trong văn bản “Nhật kí trong tù”

"Tác phẩm "Nhật kí trong tù" của nhà văn Hồ Chí Minh là một trong những tác phẩm văn học có giá trị lớn về mặt nghệ thuật và tinh thần. Bài văn phân tích sẽ đi sâu vào những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm này.

Tác phẩm "Nhật kí trong tù" là một tuyển tập gồm 6 bài nhật ký được viết tại nhà tù Côn Đảo từ năm 1942 đến 1943. Đây không chỉ là những ghi chép về cuộc sống cá nhân của tác giả trong tù, mà còn là một tài liệu quý giá về tinh thần chiến đấu, sự cảm nhận sâu sắc về đời sống xã hội và chính trị.

"Nhật kí trong tù" không chỉ đơn thuần là những bài nhật ký mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, quyết tâm và lý tưởng cao đẹp của Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc.

Trong từng câu từ, Hồ Chí Minh đã tạo nên một giai điệu lời văn đặc trưng, dễ nhớ và dễ thấm vào lòng người đọc. Điều này giúp tác phẩm có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với mọi đối tượng độc giả.

Tác phẩm "Nhật kí trong tù" không chỉ là di sản văn học của Việt Nam mà còn là một nguồn cảm hứng vô tận cho thế hệ ngày nay và tương lai. Sự tinh tế trong nghệ thuật của tác phẩm đã giúp nó vượt qua thời gian và mang lại giá trị vĩnh cửu cho văn học nước nhà.

Thông qua việc phân tích các nét đặc sắc về nghệ thuật của "Nhật kí trong tù", ta có thể thấy rõ sự xuất sắc và sâu sắc trong cách viết của Hồ Chí Minh, qua đó khẳng định tác phẩm này là một trong những tác phẩm văn học đỉnh cao của dân tộc Việt Nam, góp phần to lớn vào sự phát triển của văn học nước nhà.

Bài mẫu 4: Nét đặc sắc nghệ thuật trong văn bản “Một thức quà của lúa non cốm”

Bài tùy bút “Một thứ quà của lúa non: Cốm” đã thể hiện được nét đặc sắc của tác giả Thạch Lam là thiên về cảm giác tinh tế, nhẹ nhàng mà sâu sắc. Đây cũng là đặc điểm chung trong các sáng tác của Thạch lam nói chung. Trong bài tùy bút, có rất nhiều chi tiết có thể sáng tỏ cho nhận định này.

Chẳng hạn như khi nói về sự hình thành của hạt cốm, tác giả đã viết một đoạn văn miêu tả thấm đượm cảm xúc, thông qua những từ ngữ chọn lọc tinh tế, những câu văn có nhịp điệu: Khi đi qua cánh đồng xanh…mùi thơm của bông lúa non; Trong cái vỏ xanh kia, có một giọt sữa trắng thơm, phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ; Giọt sữa dần dần đọng lại; Rồi một loạt cách chế biến để làm ra tứ cốm dẻo ấy. ta có thể thấy Thạch Lam đã rất cẩn trọng trong chọn lọc từ ngữ miêu tả, câu văn thì nhiều nhạc điệu để thể hiện được luận điểm: Cốm là thứ quà đặc biệt của lúa non, của bàn tay khéo léo.

Để có hạt cốm cắn đến sự khéo léo của con người. Vì vậy sau đoạn mở đầu tác giả đã nói đến nghề làm cốm nổi tiếng ở làng Vòng. Tác giả khong đi vào miêu tả tỉ mỉ kĩ thuật hay công việc làm cốm mà cho biết đó là một nghệ thuật với một loạt cách chế biến, những cách thức truyền từ đời này sang đời khác.

Bài mẫu 5: Nét đặc sắc nghệ thuật trong văn bản “Những người khốn khổ” của Nam Cao

"Tác phẩm 'Những người khốn khổ' của Nam Cao là một trong những tác phẩm văn học nổi tiếng của văn học Việt Nam, nổi bật với những nét đặc sắc về nghệ thuật, phản ánh sâu sắc cuộc sống và con người trong xã hội vùng quê Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ 20.

Với việc sử dụng ngôn từ giản dị, gần gũi với đời sống thường dân Nam Cao đã tạo nên sư chân thật, dễ tiếp cận với độc giả và giúp đẩy mạnh tính tình cảm của câu chuyện. Tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc miêu tả đời sống nông thôn mà còn chứa đựng những lời phê phán sâu sắc về bất công xã hội, sự bất bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư, sự lạc hậu trong tư tưởng và phong tục tập của một số gia đình nông thôn.

Tác giả Nam Cao khéo léo xây dựng những nhân vật có tính cách phong phú, có đa chiều, từ đó giúp tác phẩm trở nên sinh động và gần gũi với độc giả. Nhân vật chính Thắng và những con người xung quanh anh được tác giả miêu tả với sự tinh tế, từ đó tạo nên một bức tranh đa sắc màu về cuộc sống và con người. Nam Cao khai thác sâu sắc tâm lý nhân vật, từ đó tạo ra những trải nghiệm độc đáo và gây tiếng vang trong lòng độc giả. Bằng những nét vẽ nhân vật và tâm lý sâu sắc, tác giả đã làm nổi bật thêm nghệ thuật và giá trị nhân văn của tác phẩm.

Tác phẩm "Những người khốn khổ" của Nam Cao không chỉ mang lại những trải nghiệm văn học sâu sắc mà còn là một tài liệu quý giá về văn hóa, xã hội Việt Nam. Tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc và trở thành một trong những tác phẩm văn học có giá trị lớn trong văn chương dân tộc.

Thông qua việc phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của "Những người khốn khổ", chúng ta có thể thấy được sự tài hoa và tầm ảnh hưởng của Nam Cao trong việc khắc họa cuộc sống, con người và những tầng lớp xã hội trong tác phẩm văn học này.

Bài mẫu 6: Nét đặc sắc nghệ thuật trong văn bản “Sài Gòn tôi yêu”

Trong bài tùy bút Sài Gòn tôi yêu, tác giả Minh Hương đã thể hiện tình yêu mãnh liệt đối với Sài Gòn trong sự cảm nhận về phong cách của người Sài Gòn. Trước hết, tác giả lí giải nguyên nhân Sài Gòn là nơi hội tụ của người tứ phương: bởi Sài Gòn hội tụ người của bốn phương những hòa hợp, không phân biệt, qua đó thể hiện phẩm chất tốt đẹp của người Sài Gòn, đó chính là sự cởi mở, đoàn kết.

Phong cách của người Sài Gòn lại được tác giả Minh Hương thể hiện qua chi tiết những cô gái yểu điệu, thiết tha, e ngại, ngượng nghịu như vầng trăng mới ló, cười chum chím, sáng rỡ, hóm hỉnh, nhí nhảnh. Qua miêu tả của tác giả ta thấy được phong cách của người Sài Gòn, đó chính là sự tinh tế, chân thành, cởi mở, bộc trực, vẻ đẹp tự nhiên, dễ gần mà dũng cảm cao đẹp.

Qua văn bản Sài gòn tôi yêu đã cho người đọc thấy được Sài Gòn là một đô thị sầm uất, đông đúc, con người sống với nhau bằng tình yêu thương và sự đoàn kết, gắn bó. Đồng thời thể hiện được tình cảm yêu thương, trân trọng của tác giả Minh Hương đối với vùng đất này.

Bài mẫu 7: Nét đặc sắc về nghệ thuật trong tác phẩm “Những câu chuyện về rừng xanh”

Tác phẩm “Những câu chuyện về rừng xanh” của Tô Hoài là một tuyển tập truyện ngắn mang đậm chất văn học thiếu nhi, nhưng lại chứa đựng những giá trị nghệ thuật sâu sắc và nhân văn sâu xa.

Tô Hoài đã khéo léo sử dụng ngôn từ để tạo nên các hình ảnh sống động về thiên nhiên, về cuộc sống của con người và đặc biệt là những câu chuyện đậm tính giáo dục. Ví dụ, trong mỗi câu chuyện, những cảnh vật, nhân vật đều được miêu tả chi tiết, màu sắc, âm thanh và hành động của chúng được sắp xếp hợp lý, tạo nên sức mạnh về hình ảnh cho độc giả. Mỗi câu chuyện trong tuyển tập đều có một cấu trúc logic rõ ràng, từ giới thiệu nhân vật, tình huống cho đến sự phát triển và kết thúc hài hòa. Tác giả không chỉ dừng lại ở việc kể chuyện mà còn để lại cho độc giả những suy nghĩ sâu xa về cuộc sống và con người. Tác phẩm không chỉ mang tính giải trí mà còn chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. Tô Hoài đã khéo léo kết hợp giữa những tình huống hài hước, những câu chuyện đời thường nhưng vẫn giữ được sự đậm đà của nhân văn, giúp độc giả nhận ra giá trị của sự chia sẻ, lòng từ bi và sự hiểu biết về thế giới xung quanh. Mỗi câu chuyện mang đến cho độc giả một bài học riêng, một cảm xúc riêng, từ đó thúc đẩy sự hiểu biết và tình cảm đối với cuộc sống và thiên nhiên. Dưới sự tinh tế của Tô Hoài, “Những câu chuyện về rừng xanh” không chỉ đơn thuần là giải trí mà còn là một công cụ giáo dục hiệu quả. Những câu chuyện không chỉ giúp trẻ em hiểu về thiên nhiên mà còn giúp họ hình thành và phát triển tư duy, tình cảm và ý thức về giá trị cuộc sống.

Tóm lại, tác phẩm “Những câu chuyện về rừng xanh” của Tô Hoài là một ví dụ xuất sắc về sự kết hợp giữa nghệ thuật văn học và giáo dục, từ đó giúp độc giả hiểu sâu hơn về thế giới xung quanh và nhân văn con người.