Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) bày tỏ sự tâm đắc của bạn về một phương diện nổi bật của bài thơ Tràng giang.

Tổng hợp những bài văn, đoạn văn hay nhất trong chương trình học của Ngữ văn kết nối tri thức. Phần tổng hợp dưới đây là ngữ liệu tham khảo giúp học sinh biết cách tìm ý, diễn đạt câu văn, chắt lọc từ ngữ và hình thành ý tưởng trong quá trình làm bài. Mời các em cùng tham khảo: Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) bày tỏ sự tâm đắc của bạn về một phương diện nổi bật của bài thơ Tràng giang.

Nội dung chi tiết

Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) bày tỏ sự tâm đắc của bạn về một phương diện nổi bật của bài thơ Tràng giang.

Bài tham khảo 1:

Bài thơ “Tràng Giang” của nhà thơ Huy Cận là một tác phẩm đẹp và đầy tâm huyết. Trong bài thơ này, tôi cảm nhận sự tương phản giữa vẻ đẹp thiên nhiên và nỗi u buồn của con người. Nhìn vào bức tranh “Tràng giang”, tôi thấy sự mênh mông của sóng nước và bầu trời rộng lớn. Những đoạn thơ như “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” và “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót” tạo ra hình ảnh mê đắm và lãng mạn. Đây là vẻ đẹp cổ điển, nhưng cũng mang trong nó một nét hiện đại, đầy sâu sắc. Tuy nhiên, không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên, bài thơ còn thể hiện nỗi u buồn của con người. Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả; củi một cành khô lạc mấy dòng. Những hình ảnh này gợi lên tâm trạng buồn bã, cô đơn và nhớ nhà. Dòng thơ cuối cùng “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” đặc biệt đậm chất nhân văn. Tôi tin rằng bài thơ “Tràng Giang” không chỉ là một tác phẩm về thiên nhiên mà còn là một tấm gương về tâm hồn và tình cảm của con người.

Bài tham khảo 2:

Trong bài thơ “Tràng Giang”, tình cảm của người lữ khách trong bài là một phần quan trọng tạo nên động lực cho hành trình của họ. Họ là người xa xứ, đang trở về quê hương sau một thời gian dài xa cách. Người lữ khách mang trong lòng nỗi nhớ quê hương. Họ đã trải qua nhiều khó khăn nhưng tâm hồn họ luôn hướng về nơi gọi là “nhà”. Câu thơ “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” thể hiện sự mong đợi và tình cảm sâu sắc của lữ khách. Hành trình trở về quê hương không chỉ là việc di chuyển vật lí mà còn là cuộc lữ hành trong tâm hồn. Người lữ khách đối diện với sóng gió, nhưng họ kiên nhẫn và quyết tâm. Hình ảnh “thuyền về nước” và “củi một cành khô” là biểu tượng cho sự vượt qua khó khăn. Bài thơ kết hợp giữa vẻ đẹp tự nhiên và tâm hồn con người. Người lữ khách đan xen giữa sự mênh mông của Tràng Giang và nỗi buồn u ám trong tâm hồn. Đây là tình cảm đặc biệt, khi họ đối diện với vẻ đẹp và cô đơn. Tình cảm của người lữ khách là một phần không thể thiếu trong bài thơ tạo nên sự động viên và sâu lắng cho người đọc suy ngẫm.

Bài tham khảo 3:

Bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận là một tác phẩm đẹp và đầy cảm xúc. Trong bài thơ này, tôi cảm nhận được sự kết hợp tinh tế giữa vẻ đẹp cổ điển và hiện đại. Từng câu thơ trong “Tràng Giang” đều chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc. Song nước trôi qua, thuyền về nước, cành khô lạc và tiếng làng xa vọng lại tạo nên một bức tranh sống động về cuộc sống, về sự trôi chảy của thời gian. Bài thơ không chỉ mô tả cảnh vật mà còn thể hiện tâm hồn của người viết, sự lưu luyến và u buồn về quê hương, về cuộc sống đầy biến động. Tôi cảm nhận rằng bài thơ “Tràng Giang” là một tác phẩm đáng để suy ngẫm và cảm nhận. Nó không chỉ là một bức tranh thiên nhiên mà còn là một tấm gương về tình người, về tâm hồn con người trong cuộc sống.

Bài tham khảo 4:

Trong bài thơ Tràng Giang, yếu tố cổ điển đã được Huy Cận sử dụng kết hợp với nhau để khẳng định cái tôi buồn bã, cô đơn trước cuộc đời qua một nguồn cảm hứng bất tận với không gian của vũ trụ bao la. Trước hết, yếu tố cổ điển được thể hiện ở đề tài, đề tài sông nước đã xuất hiện phổ biến trong thi ca cổ. Người đọc còn cảm nhận được yếu tố ấy qua nhan đề “Tràng giang”. Tràng giang là từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, cổ kính phảng phất phong vị Đường thi. Nhưng độc đáo nhất có lẽ phải kể đến yếu tố cổ điển trong tứ thơ. Mượn không gian hùng vĩ, đượm buồn khi chiều xuống, nhà thơ gửi gắm tâm sự của mình. Không gian càng mênh mông, rợn ngợp, con người càng nhỏ bé, cô đơn, kiếp người lênh đênh giữa dòng đời không biết đi đâu về đâu. Đây là tứ thơ quen thuộc trong thơ cổ. Đọc bài thơ, ta bắt gặp nhiều hình ảnh quen thuộc trở đi trở lại trong áng văn thơ cổ điển. Dòng sông dài mênh mông vắt ngang bầu trời cao rộng; bến vắng cô liêu; con thuyền lênh đênh xuôi ngược; cánh chim nhỏ chao nghiêng dưới ánh hoàng hôn... Hình ảnh thơ chia thành hai hệ thống đối lập: một bên là thiên nhiên rộng lớn cao rộng, một bên là kiếp người bé nhỏ, cô đơn. Cuối cùng nhà thơ sử dụng bút pháp “họa vân hiển nguyệt” của Đường thi để bày tỏ nỗi lòng của mình trước cảnh thiên nhiên dợn ngợp.

Bài tham khảo 5:

Những nỗi sầu của Tràng Giang có lẽ đã khiến trái tim biết bao độc giả lay động, lay động từ trái tim tác giả, cho đến lay động từ chính những phương diện tồn tại bên trong bài thơ. Nhưng đối với Huy Cận dường như ông không thể che đậy nỗi buồn, nỗi nhớ thương này nữa, ngay khổ đầu của thi phẩm tác giả dường như đã bộc bạch tất cả những tâm tư đó. Dù cho nỗi buồn có vội vã đến đâu, từng câu từng chữ, từng giá trị nghệ thuật đối với Huy Cận luôn là điểm nhấn hoàn mỹ của tác phẩm, với nghệ thuật sử dụng từ láy “điệp điệp” thi sĩ đã gợi tả sự phóng đại nỗi buồn, nỗi buồn miên man, nỗi buồn vô cùng da diết. Thấy vậy không ngắt nội dung với nhịp thơ ở đó, bằng trí tưởng tượng phong phú đặc sắc khi kết hợp với nghệ thuật đối lập, đó là sự đối lập giữa chi tiết “buồn điệp điệp” với “nước song song”, “thuyền về” với “nước lại”, “một cành khô” với “lạc mấy dòng”. Không lẽ nào chỉ trong một khổ thơ, Huy Cận đã sử dụng liên tiếp những nghệ thuật đối? Có lẽ điều đó thể hiện sự giãi bày tất cả những nỗi buồn dồn nén bấy lâu nay trong tác giả, Huy Cận như đang tìm kiếm sự đồng cảm, sự sẻ chia của con người. Đồng thời đó cũng là lời ngỏ để hỗ trợ tác giả trong giai đoạn thi nhân này đang bị mất phương hướng và cảm thấy rợn ngợp bởi không gian rộng lớn này.

Bài tham khảo 6:

Trước cảnh sông Hồng mênh mang, rộng lớn, Huy Cận xúc động viết lên bài thơ "Tràng Giang". Hình ảnh "bèo dạt" trong câu thơ "Bèo dạt về đâu hàng nối hàng" gợi nên cho người đọc nhiều suy ngẫm. Chi tiết ước lệ "bèo" đã diễn tả thân phận, kiếp người chìm nổi. Đặc biệt những cánh bèo này lại trôi dạt không biết đi đâu về đâu. Cảnh sông nước mênh mông, rộng lớn mà con người lại nhỏ bé nên chẳng thể tìm được sự đồng cảm. Ý thơ khiến ta liên tưởng đến chính thế hệ những nhà thơ Mới lúc bấy giờ. Họ như những cánh bèo kia chẳng biết sẽ đi đâu về đâu. Điều đó cũng được nhà thơ Xuân Diệu bày tỏ "Tôi là con nai bị chiều đánh lưới/ Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối". Vậy qua hình ảnh "bèo" người đọc có thể cảm nhận được cái tôi cô đơn, trống vắng của Huy Cận.

Bài tham khảo 7:

Hình ảnh đầu tiên của bài thơ là hình ảnh những con sóng khẽ gợn, nối tiếp nhau đến vô cùng, vô tận, tầng tầng lớp lớp không dứt. Câu thơ sử dụng bút pháp “lấy động tả tĩnh” của văn học trung đại. Chuyển động của con sóng chỉ là “gợn” rất khẽ, rất nhỏ dường như tan đi trong cái không gian mênh mông của sông của trời. Con sóng đi cùng với tràng giang đã không còn là con sóng thực mà dường như mang một lớp nghĩa ẩn dụ mới. Nó gợi đến nỗi buồn trong tâm hồn con người trước sự dài rộng của không gian. Cùng với hình ảnh sóng nước là hình ảnh con thuyền đang lênh đênh xuôi theo dòng. Hình ảnh này như gợi đến kiếp sống nổi lênh của một lớp người bé nhỏ trong xã hội. Đây cũng là một thi liệu quen thuộc gần như đã trở thành chuẩn mực trong văn học. Trong thơ Đường, ta đã từng bắt gặp hình ảnh con thuyền và dòng sông đầy ám ảnh, trĩu nặng cái tình của người đưa tiễn:

Cô phàm viễn cảnh bích không tận
Duy kiến Trường giang thiên tế lưu

(Lí Bạch)

Bài tham khảo 8:

Ở khổ thứ nhất bài thơ "Tràng Giang", người đọc có thể cảm nhận được đặc sắc nghệ thuật độc đáo của Huy Cận. Tác giả sử dụng từ láy "điệp điệp" để gợi nỗi buồn thương da diết, miên man không dứt. Đặc biệt, sự đối lập giữa "củi một cành khô" với "lạc mấy dòng" đã nhấn mạnh sự chìm nổi, cô đơn của một cái tôi mất phương hướng. Quan trọng hơn, khổ thơ đầu còn nổi bật với cấu trúc đăng đối được tác giả sử dụng triệt để: "buồn điệp điệp" đối với "nước song song", "thuyền về" đối với "nước lại", "một cành khô" đối với "lạc mấy dòng". Tất cả những dụng ý nghệ thuật đó đã góp phần diễn tả nỗi buồn trầm lắng của tác giả trước thiên nhiên. Không gian càng rộng lớn thì Huy Cận càng thấy rợn ngợp. Trong hoàn cảnh đó, nhà thơ hướng tìm sự đồng cảm của con người. Thế nhưng hình ảnh con người cũng hiện lên rất thưa thớt. Vậy nên, đứng không gian bao la, thi nhân cảm thấy bị mất phương hướng và không biết rồi sẽ đi đâu về đâu.

Bài tham khảo 9:

“Tràng giang” là bài thơ làm nên tên tuổi của Huy Cận. Phương diện nghệ thuật đặc sắc chính là yếu tố tạo nên sự đặc biệt cho tác phẩm. Đầu tiên, ta phải kể đến bức tranh thiên nhiên sông nước hùng vĩ mà hoang sơ, vắng lặng đến khôn cùng được gửi gắm nỗi buồn triền miên. Chất liệu cổ điển của Đường thi được Huy Cận sử dụng một cách rất tài tình, thấm nhuần từ nhan đề đến hệ thống các hình ảnh thơ như con sông, cánh chim chiều, cồn cát, chợ chiều,… Nghệ thuật sử dụng từ láy “điệp điệp”, “song song” đem đến âm hưởng mênh mang tựa như nỗi buồn kéo dài từ cổ chí kim. Cách gieo vần chân “song” – “dòng”, “ngang” – “vàng”, “sa” – “nhà” cũng góp phần làm nên âm điệu hấp dẫn cho tác phẩm. Câu thơ cuối bài “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” đã bộc lộ trực tiếp cảm xúc của nhân vật trữ tình, tạo nên sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại. Những yếu tố nghệ thuật trên đã làm nên đặc trưng của một hồn thơ “ảo não” có một không hai trong phong trào Thơ mới.

Bài tham khảo 10:

Viễn cảnh của sự chia li là thực tại của những tổn thương với người đứng trong cuộc. Ta đã bắt gặp sự chia xa của người lính với dòng sông qua câu thơ “sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi” thì Tràng Giang cũng như đang khiến người đọc phải đổ lệ trước hoàn cảnh đó khi viết: “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”. Đúng vậy, khi ngẫm tổng quát câu thơ đã khiến ta như hóa thân vào hình ảnh của câu chuyện này. Nó không mang nỗi đau lâm li bi đát nhưng hơn thế là nỗi nhớ nhung, là những vương vấn giữa cảnh và vật. Khi càng tìm hiểu sâu hơn ta thấy Huy Cận như cơn lốc xoáy vậy, ông lôi cuốn người đọc bằng nghệ thuật đối lập giữa hình ảnh “thuyền về” và “nước lại” từ đó nhằm nhấn mạnh về sự chia ly, xa cách, sự tiếc nuối trong lòng tác giả. Tất cả đều biết rằng “thuyền” và nước là hai hình ảnh luôn song hành cùng nhau, nhưng qua thơ của Huy Cận ông như buộc mình phải hóa thân thành kẻ phản diện khi là người sắp đặt khung cảnh chia lìa đôi ngả này. Nhà thơ đã khiến độc giả phải sung sướng và tâm đắc khi phần nào đó ông đã đưa chính những nỗi u buồn, sự chia xa của mình để ẩn chứa trong thơ.