Có thể xem truyện ngắn Vợ nhặt là một câu chuyện cổ tích trong nạn đói hay không? Nêu và phân tích quan điểm của bạn về điều này.

Tổng hợp những bài văn, đoạn văn hay nhất trong chương trình học của Ngữ văn kết nối tri thức. Phần tổng hợp dưới đây là ngữ liệu tham khảo giúp học sinh biết cách tìm ý, diễn đạt câu văn, chắt lọc từ ngữ và hình thành ý tưởng trong quá trình làm bài. Mời các em cùng tham khảo: Có thể xem truyện ngắn Vợ nhặt là một câu chuyện cổ tích trong nạn đói hay không? Nêu và phân tích quan điểm của bạn về điều này.

Nội dung chi tiết

Đề bài: Có thể xem truyện ngắn Vợ nhặt là một câu chuyện cổ tích trong nạn đói hay không? Nêu và phân tích quan điểm của bạn về điều này.

Bài tham khảo 1:

Trong bối cảnh nạn đói năm Ất Dậu 1945, Vợ nhật không chỉ khắc họa bức tranh về khốn khó mà còn là một bài ca ngợi tình người trong lúc khốn cùng. Trong tình trạng đói kém khi mà bản thân còn lo chưa xong nhưng vẫn ánh lên tình thương giữa người với người trong hoàn cảnh khốn cùng ấy. Tràng và bà cụ Tứ sẵn sàng đèo bồng thêm một người vợ nhặt, thi cũng sẵn sàng theo không Tràng về làm vợ. Khát vọng hạnh phúc gia đình lớn lao hơn những nhu cầu cuộc sống tầm thường. Theo em, có thể xem “Vợ nhặt” là một câu chuyện cổ tích trong nạn đói. Mặc dù cái đám cưới của Tràng và thị không hề đẹp đẽ và giầu có như những cô công chúa với hoàng tử, nhưng nó vẫn đặc biệt khi tổ chức trong cảnh khốn cùn. Trong tình cảnh khó khăn, vất vả và đói kém như vậy gia đình Tràng quyết định cưu mang thêm thị, cho thị một miếng ăn, chỗ ở, và một gia đình hạnh phúc và đủ đầy. Câu chuyện “Vợ nhặt” sáng lên như một câu chuyện cổ tích trong nạn đói năm ấy, với niềm tin và hi vọng vượt qua mọi khó khăn. Như vây, tác phẩm “Vợ nhặt” không chỉ là môt bức tranh đau thương về nạn đói mà còn là một câu chuyện về tình người và niềm tin trong lúc khốn cùng.

Bài tham khảo 2:

Theo em, truyện “Vợ nhặt” không phải là câu chuyện cổ tích. Một số người có thể không đồng tình với ý kiến như vậy. Họ có thể lập luận rằng tác phẩm này thể hiện sự thực tế và đời sống khó khăn của những người dân trong thời kì nạn đói. Trong bài viết, chúng ta thấy những khía cạnh đau thương, như sự đói khát, cảm giác mệt mỏi và tình thương thấu hiểu giữa các nhân vật. Những yếu tố này không phải là những yếu tố thường thấy trong câu chuyện cổ tích truyền thống.

Ngoài ra, việc Tràng và bà cụ Tứ đón thị vào gia đình không phải là một hành động kì diệu hay ghép màu mà là sự đáp ứng tự nhiên của con người trong hoàn cảnh khó khăn. Điều này làm cho câu chuyện trở nên thực tế và chân thực hơn.

Như vây, “Vợ nhặt” có thể được đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau và quan điểm về việc xem nó là câu chuyện cổ tích hay không phụ thuộc vào quan điểm cá nhân của mỗi người đọc.

Bài tham khảo 3:

Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Nam Cao không phải là một câu chuyện cổ tích trong nạn đói, mà thực chất nó là một tác phẩm văn học hiện thực với sự miêu tả chân thực về cuộc sống của con người trong hoàn cảnh khó khăn. “Vợ nhặt” mang tính hiện thực cao hơn là tính cổ tích. Nam Cao tập trung vào việc tái hiện một cảnh đời thường của những người nghèo khổ trong một gia đình nông thôn Việt Nam. Truyện không sử dụng yếu tố siêu nhiên hay trang trí màu mè như trong truyện cổ tích. Câu chuyện tập trung vào cuộc sống thực tế của Tràng, Thị và bà cụ Tứ, cách họ đối phó với hoàn cảnh khó khăn và tình cảm giữa họ. Các nhân vật không có những đặc tính siêu phàm hay sự hiện diện kì diệu trong câu chuyện cổ tích mà họ là những con người bình thường đối mặt với khó khăn của đời sống. Nam Cao lồng ghép vào câu chuyện những nỗi lo âu, hy vọng và lòng nhân ái trong hoàn cảnh khó khăn, thể hiện sự chân thật và sâu sắc về tâm lý con người. Tác giả tập trung vào việc phân tích nhân vật và xây dựng các tình huống mà người đọc có thể đồng cảm và suy ngẫm.

Vì vậy, “Vợ nhặt” của Nam Cao không nên được xem là một câu chuyện cổ tích trong nạn đói. Thay vào đó, đây là một tác phẩm hiện thực với mục đích tái hiện cuộc sống và thể hiện sâu sắc về tâm lí con người trong một thời kì khó khăn của lịch sử Việt Nam.

Bài tham khảo 4:

“Ta nhớ mãi cái thời kì đen tối/ Quên sao được tội ác kẻ xâm lăng” (Đói – Bàng Bá Lân), nạn đói năm 1945 là nguồn cảm hứng của rất nhiều nhà văn trong văn chương. Viết về nạn đói năm ấy, ta nhớ đến một tác phẩm vô cùng đặc biệt – Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân. Dù được viết trong nạn đói vô cùng đau khổ và thiếu thốn nhưng truyện ngắn Vợ nhặt có thể được xem là một câu chuyện cổ tích.

Ta tự hỏi tại sao tác phẩm Vợ nhặt lại được xem là câu chuyện cổ tích? Trong Vợ nhặt, ta không hề bắt gặp một chàng hoàng tử đẹp trai, giàu có, cũng không có nàng công chúa với mái tóc dài, làn da trắng trẻo xinh đẹp và giỏi giang. Trong Vợ nhặt của Kim Lân, ta chỉ bắt gặp một anh cu Tràng khờ khạo và có phần không bình thường, một cô thị đói khát và cuộc đời như một số không tròn trĩnh.

Khi Tràng đưa thị về nhà hỏi cưới, Tràng cưới thị trong một đêm tối vô cùng u ám và lạnh lẽo. Trong đám cưới ấy, không có sự chứng kiến của bạn bè, không có hoa cưới, không có những mâm cơm và rượu mừng, chỉ có Tràng, thị và bà cụ Tứ, dù cái đám cưới ấy thiếu tất cả nhưng cũng lại đầy đủ tất cả, dù đó chỉ là một cái đám cưới trong vô số cái đám ma.

Đây thật sự là một câu chuyện cổ tích đặc biệt, trong tình cảnh mà sự sống càng xích lại gần nhau hơn thì càng gần với cái chết nhưng Tràng vẫn quyết định cưu mang thị, đèo bòng thêm thị về nhà. Tràng không phải là một anh chàng hoàng tử giàu có, gia đình thì lại còn nghèo khổ, miếng ăn còn không có vậy mà quyết định cứu thị về, cho thị một chỗ dựa, một miếng ăn, một ngôi nhà và ước mơ vào một gia đình hạnh phúc.

Trong hoàn cảnh tối tăm như vậy, Tràng, thị và bà cụ Tứ chưa bao giờ từ bỏ hi vọng về một tương lai tươi sáng và hạnh phúc. Sau khi cưới thị về, Tràng đã có niềm tin về một gia đình hạnh phúc, một hi vọng về gia đình đủ đầy, vui vẻ. Còn bà cụ Tứ cũng mơ về “đôi gà – đàn gà”, đó chính là tương lai sum vầy sau này của gia đình nhỏ, một tương lai đủ đầy và hạnh phúc.

Thông qua tác phẩm, người đọc cũng rút ra cho mình những bài học, những lời khuyên về một tương lai tươi đẹp, sống phải luôn có niềm tin và hi vọng, dù trong bước đường cùng. Dù được xem như là một câu chuyện cổ tích trong nạn đói nhưng truyện ngắn Vợ nhặt cũng vô cùng hiện thực, phản ánh đúng thực trạng nạn đói của người dân Việt Nam.

Bài tham khảo 5:

Theo em, truyện ngắn Vợ nhặt của tác giả Kim Lân không thể coi là một câu chuyện cổ tích trong nạn đói bởi các truyện cổ tích thường mang yếu tố hư cấu, được dân gian sáng tạo ra nhằm tạo ra các kết thúc có hậu phản ánh mong muốn của người dân. Vợ nhặt là một câu chuyện mang giá trị hiện thực. Do ảnh hưởng của nạn đói nên con người ta đôi khi quên đi mất danh dự, những khát khao đời sống như tình yêu đôi lứa. Việc gắn kết giữa con người lúc này chính là sự sống, khát khao được sống. Tuy nhiên tác phẩm cũng đã mang lại những giá trị nhân đạo về tình người vô cùng to lớn thông qua hình tượng nhân vật Tràng và bà cụ Tứ. Kết thúc truyện mang hướng gợi mở về một tương lai tươi sáng hơn của những người dân nghèo.

Bài tham khảo 6:

Theo em, có thể xem truyện “Vợ nhặt” là một câu chuyện cổ tích trong nạn đói vì câu chuyện trong truyện ngắn “Vợ nhặt” có motip giống với truyện cổ tích, đám cưới của Tràng với Thị cũng được coi là đám cưới cổ tích. Giữa cái cảnh đói kém, khi mà bản thân còn lo chưa xong nhưng vẫn ánh lên tình thương giữa người với người trong hoàn cảnh khốn cùng ấy. Tràng và bà cụ Tứ sẵn sàng đèo bồng thêm một người vợ nhặt, thi cũng sẵn sàng theo không Tràng về làm vợ. Khát vọng hạnh phúc gia đình lớn lao hơn những nhu cầu cuộc sống tầm thường. Chuyện kết thúc bằng một chi tiết “sáng” mở ra một tương lai mới cho các nhân vật (hình ảnh phá kho thóc Nhật, đoàn người đi trên đê và lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới).

Bài tham khảo 7:

Có thể xem câu chuyện “Vợ nhặt” là một câu chuyện cổ tích trong nạn đói. Cái đám cưới của Tràng và Thị không hề đẹp đẽ hay giàu có như những cô công chúa với hoàng tử nhưng cái đám cưới ấy vô cùng đặc biệt khi tổ chức trong hoàn cảnh như thế. Trong tình cảnh khó khăn, vất vả và đói kém như vậy thì gia đình Tràng vẫn quyết định cưu mang thêm thị, cho thị một miếng ăn, chỗ ở, một gia đình hạnh phúc và đủ đầy. Câu chuyện “Vợ nhặt” được xem là câu chuyện cổ tích khi trong hoàn cảnh tăm tối, con người vẫn luôn đong đầy niềm tin và hi vọng, ước mơ về tương lai hạnh phúc đó là niềm tin chưa bao giờ lung lay. Người đọc được hướng đến những điều đẹp đẽ, những giá trị tích cực và tốt đẹp sau khi đọc tác phẩm. Dù được đánh giá là được xem như một câu chuyện cổ tích nhưng tác phẩm Vợ nhặt không quá hư cấu mà vẫn có tính hiện thực và nhân đạo.

Bài tham khảo 8:

Vợ nhặt được viết trong bối cảnh nạn đói năm Ất Dậu 1945, dân ta chịu cảnh lầm than đói khổ vì quân Nhật bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, vì vậy mà nước ta có đến hơn 2 triệu người chết đói, ta nhớ đến những vần thơ “Năm Ất Dậu tháng ba còn nhớ mãi/ Giống lạc hồng cực trải lắm đau thương/ Những thây ma thất thểu đầy đường/Rồi ngã gục không đứng lên vì đói”. Cái đói, cái nghèo, cái chết thấm trong từng con chữ của nhà văn Kim Lân, đó chính là tài ba trong nghệ thuật miêu tả của nhà văn Kim Lân, không gian làng quê lúc này vô cùng hoang sơ và tiêu điều. Cái đói đã tràn đến khắp nơi trong con xóm nhỏ của xóm ngụ cư nghèo, con người cũng bị cảnh vật làm cho đìu hiu. Người người ủ rũ không muốn nhúc nhích, người sống xanh xám như những bóng ma, bóng những người đói dật dờ đi lại như những bóng ma ngoài đường. Người chết như ngả rạ, ba bốn cái xác chết nằm còng queo bên vệ đường, còn tiếng quạ thì “gào lên từng hồi thê thiết” chúng chính là sứ giả của địa ngục, của cái chết đang đến gần hơn với người dân. Mùi rơm bốc lên thoang thoảng khiến người đọc cảm thấy lạnh lẽo và sợ hãi trước nạn đói năm ấy. Hoàn cảnh lúc bấy giờ vô cùng thê thảm, ta cảm nhận được sự bức bối, đau khổ bao trùm lên toàn bộ không gian của xóm ngụ cư nghèo. Bối cảnh thê lương của nạn đói được Kim Lân miêu tả rõ nhất qua những so sánh cụ thể và sống động, người sống cũng không khác người chết là bao, họ tựa tựa nhau như minh chứng rằng ranh giới giữa sự sống và cái chết vô cùng mong manh. Những con người bây giờ vẫn còn đang sống có thể ngày mai sẽ trở thành cái xác còng queo bên đường, vô cùng đáng sợ. Tuy nhiên, trong tác phẩm Vợ nhặt vẫn sáng lên những niềm tin, niềm hi vọng như một câu truyện cổ tích trong nạn đói năm ấy.

Bài tham khảo 9:

Theo em, truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân có thể coi là một câu chuyện cổ tích trong nạn đói. Tuy nó không phải là một cuộc sống màu hồng như Lọ Lem, Bạch Tuyết, nhưng đối với người trong cuộc, họ vẫn là những người may mắn, tìm thấy hạnh phúc trong khó khăn, xây dựng được một gia đình dù còn nhiều khó khăn. Tin chắc rằng dựa theo mạch của truyện như vậy, diễn biến tiếp theo của câu chuyện sẽ là: gia đình của Tràng sẽ vượt qua nạn đói nhờ vào cách mạng, vợ chồng Tràng đi theo cách mạng, có việc làm ổn định nuôi sống gia đình, những đứa con sẽ ra đời và bà cụ Tứ sẽ hạnh phúc, mãn nguyện trong những năm cuối đời của mình.

Bài tham khảo 10:

Theo em, truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân có thể coi là một câu chuyện cổ tích trong nạn đói. Truyện được viết sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong thời kì nạn đói khắc nghiệt năm 1945. Tác phẩm không chỉ khắc họa bức tranh về nạn đói mà còn ca ngợi tình người giữa lúc khốn cùng. Nhà văn Kim Lân đã xây dựng tình huống truyện độc đáo, giữa chân độc giả và khám phá đến cuối thiên truyện. Tác phẩm tập trung vào tình thương giữa con người trong hoàn cảnh khó khăn. Tràng và bà cụ Tứ sẵn sàng đèo bồng thêm một người vợ nhặt, thị cũng sẵn sàng theo không Tràng về làm vợ. Khát vọng hạnh phsuc gia đình lớn lao hơn những nhu cầu cuộc sống tầm thường. Tóm lại, “Vợ nhặt” không chỉ là một câu chuyện về nạn đói mà còn là bài hát ca ngợi tình người và khát vọng sống trong hoàn cảnh khó khăn.