Truyện Kiều đã nhiều lần miêu tả cảnh Thúy Kiều đánh đàn. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) bình luận về tiếng đàn của Thúy Kiều trong một lần được Nguyễn Du miêu tả.

Tổng hợp những bài văn, đoạn văn hay nhất trong chương trình học của Ngữ văn 11 kết nối tri thức. Phần tổng hợp dưới đây là ngữ liệu tham khảo giúp học sinh biết cách tìm ý, diễn đạt câu văn, chắt lọc từ ngữ và hình thành ý tưởng trong quá trình làm bài. Mời các em cùng tham khảo: Truyện Kiều đã nhiều lần miêu tả cảnh Thúy Kiều đánh đàn. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) bình luận về tiếng đàn của Thúy Kiều trong một lần được Nguyễn Du miêu tả.

Nội dung chi tiết

Đề bài: Truyện Kiều đã nhiều lần miêu tả cảnh Thúy Kiều đánh đàn. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) bình luận về tiếng đàn của Thúy Kiều trong một lần được Nguyễn Du miêu tả.

Bài tham khảo 1:

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nhiều lần miêu tả cảnh Thúy Kiều đánh đàn, và qua tiếng đàn ấy, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về tâm trạng của nhân vật này. Một trong những lần ấn tượng nhất là khi Thúy Kiều đánh đàn sau khi Từ Hải qua đời. Lúc này, Kiều gảy lên khúc “Bạc mệnh” như đang khóc thương cho số phận bất hạnh của chính mình. Tiếng đàn của Kiều về cung bậc âm thanh khi thì bay bổng vút cao trong vắt như tiếng kêu của con chim hạc bay ngang bầu trời, khi thì xuống thấp trầm đục như tiếng nước suối đổ từ trên cao đến lưng chừng. Lấy thơ để tả nhạc là chuyện không hề đơn giản, nhưng ở đây ta thấy có đầy đủ âm sắc và rất đa giọng, lúc cao trong lúc trầm đục, lúc khoan lúc mau, lúc quyến luyến mềm mại tha thiết, lúc dữ dội kiêu hùng, lúc buồn thương trầm hồn ai oán. Qua tiếng đàn, ta có cảm giác như Kiều muốn thổ lộ hết trái tim mình với người yêu lý tưởng vậy

Bài tham khảo 2:

Trong "Truyện Kiều", Thúy Kiều thường được miêu tả như một người phụ nữ tài năng và tinh tế, đặc biệt là khi cô đánh đàn. Nguyễn Du đã khéo léo tạo dựng hình ảnh của Thúy Kiều với âm nhạc như một phần không thể thiếu của bản ngã cô. Khi cầm cây đàn, tiếng nhạc từ đầu ngón tay cô phát ra mang đậm sắc thái của tâm hồn bi ai và tinh túy của nghệ thuật. Đàn ngân vang lững thững, những nốt nhạc nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, lúc khác lại đầy cảm xúc và bi thương, tạo nên một không gian âm nhạc mê đắm và sâu lắng. Đây không chỉ là một phần nghệ thuật mà còn là cách Thúy Kiều biểu lộ lòng mình, từ đó lôi cuốn và gợi cảm hứng cho người nghe và cho người đọc trong câu chuyện.

Bài tham khảo 3:

Nguyễn Du nhiều lần nhắc đến việc Kiều đánh đàn, nhưng đặc tả tiếng đàn ấy thì trước sau có bốn lần. Bốn lần Kiều đàn ở bốn hoàn cảnh, tâm trạng khác nhau, nhưng đều hay như nhau – yêu đương và đau khổ. Lần thứ nhất “ là những khúc nhạc yêu đương với hình ảnh Kiều đàn cho Kim Trọng nghe sau lần gặp gỡ. Đây là khúc nhạc yêu đương và cũng là lần đầu tiên Kiều đàn cho người yêu tâm đầu ý hợp nghe và Kim Trọng là người yêu đầu tiên của Kiều. Trong mười tám câu thơ miêu tả tiếng đàn này, ta thấy tác giả hoàn toàn để cho nhân vật thể hiện một cách tự do, tình yêu bộc lộ một cách tràn trề mãnh liệt. Tiếng đàn của Kiều về cung bậc âm thanh khi thì bay bổng vút cao trong vắt như tiếng kêu của con chim hạc bay ngang bầu trời, khi thì xuống thấp trầm đục như tiếng nước suối đổ từ trên cao đến lưng chừng: Trong như tiếng hạc bay qua/ Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. Kiều đàn bằng cảm hứng thực thụ của trái tim nóng bỏng. Lấy thơ để tả nhạc là chuyện không hề đơn giản, nhưng ở đây ta thấy có đầy đủ âm sắc và rất đa giọng, lúc cao trong lúc trầm đục, lúc khoan lúc mau, lúc quyến luyến mềm mại tha thiết, lúc dữ dội kiêu hùng, lúc buồn thương trầm hồn ai oán. Qua tiếng đàn, ta có cảm giác như Kiều muốn thổ lộ hết trái tim mình với người yêu lý tưởng vậy.

Bài tham khảo 4:

Tiếng đàn là một ngôn ngữ đặc biệt biểu hiện trực tiếp tâm trạng nạn nhân của Kiều.Cảm hứng bi kịch thích hợp với tiếng đàn nên Từ Hải không được nghe đàn lần nào mặc dù Từ là tri âm tri kỷ. Sống với Từ Hải phần nạn nhân trong tâm hồn Kiều coi như bị tiêu vong nên khúc “Bạc mệnh” kia không còn lý do tồn tại. Từ Hải chết, con người nạn nhân trong Kiều sống lại dữ dội nên tiếng đàn cũng ùa trở về với một sắc thái bi thảm chưa từng thấy. Tiếng đàn không hề có chức năng che dấu tâm trạng mà có chức năng giải tỏa tâm trạng, nó có một phép mầu nhiệm khiến cho ngay cả khi nó cất lên tiếng “ca vui đầm ấm dung hòa” mà một kẻ như Hồ Tôn Hiến cũng thấu hiểu được tâm trạng đó là “muôn oán nghìn sầu”, buồn thấm thía. Ngày xưa, anh ta là tri âm của Kiều, chính Kiều cũng công nhận (“Đã cam tệ với tri âm bấy chầy”), nhưng bây giờ đoàn viên thì anh ta không còn là tri âm nữa. Bởi vì đôi tai của con người kiểu Kim Trọng vốn là như thế, nó quá tinh đến nỗi nghe được những âm vang từ một cõi siêu hình mà tai trần không nghe thấy được, nhưng nó lại cố điếc đến nỗi không nghe thấy những âm vang từ cuộc đời “quằn quại vũng lầy” mà ai cũng thấy văng vẳng bên tai. Vì vậy, khi con người nạn nhân của Kiều đã nhiễm những kinh nghiệm thực tiễn thì nó mất đi một tri âm tự nguyện là Kim Trọng và thêm vào những kẻ tri âm bất đắc dĩ là Hoạn Thư và Hồ Tôn Hiến.

Bài tham khảo 5:

Nguyễn Du đã rất dụng công khi xây dựng hình tượng tiếng đàn nàng Kiều, “bốn lần đều khác nhau và hay như nhau” bởi nói như Tế Hanh (tài liệu đã dẫn trên), “lấy thơ tả nhạc là một điều khó. Tả nhiều lần mà khác nhau mà hay như nhau thì khó đến đâu !” và “cái khó mà Nguyễn Du vượt qua một cách vinh quang như chúng ta đã thấy”. Có lẽ khi dành nhiều tâm huyết xây dựng hình tượng này, cụ Nguyễn cũng đã cảm nhận được vấn đề tính đa nghĩa của tác phẩm nghệ thuật, nhất là tác phẩm thơ ca. Bản nhạc mà nàng Kiều đánh có tên “Bạc mệnh”, được “phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ” vì “quen mất nết đi rồi”. Đây là bản nhạc hay nhưng buồn. Cái tên của nó đã nói lên điều đó. Kim Trọng, Chung Tử Kỳ của tiếng đàn Thúy Kiều, cũng phải thốt lên khi nghe Kiều đánh lần đầu : “Rằng : ‘Hay thì thật là hay / nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào’…”. Bản đàn của Kiều là một tác phẩm âm nhạc (cung thương lầu bậc ngũ âm / nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương), hiểu rộng ra là một tác phẩm nghệ thuật. Trong cái nhìn tương qua với lĩnh vực văn chương, có thể xem bản đàn ấy như là một tác phẩm văn học xuất sắc. Đó là “cùng trong một tiếng tơ đồng” trong bản nhạc nàng Kiều mang nhiều nội dung khác nhau. Đó là những khúc “Hán, Sở chiến trường”, khúc “Tư Mã Phượng Cầu”, khúc “Quảng Lăng”, khúc “Chiêu Quân”. Bản đàn ấy cũng mang nhiều sắc thái không giống nhau, lúc “trong như tiếng hạc bay qua”, lúc lại “đục như tiếng suối mới sa nửa vời”, lúc “khoan như gió thoảng ngoài”, lúc lại “mau sầm sập như trời đổ mưa” sau này lại “đầm ấm dương hòa”, “êm ái xuân tình”… Tương quan so sánh với tác phẩm văn học, ta thấy, một tác phẩm mang tính đa nghĩa phải có khả năng gợi mở nhiều nội dung, nhiều cách hiểu khác nhau, đem lại những màu sắc, hiệu ứng thẩm mỹ không giống nhau. Một tác phẩm lúc mà lúc nào cũng chỉ là “khúc Chiêu Quân”, từ đầu đến cuối chỉ “đục như tiếng suối mới sa nửa vời” thì chắc chắn sẽ rất hạn chế tính nhiều nghĩa. Như vậy, yếu tố đầu tiên và quyết định đến tính đa nghĩa của một tác phẩm chính là tự thân tác phẩm đó. Bản đàn Thúy Kiều rất tiêu biểu cho yếu tố này nếu xem nó là một thực thể nghệ thuật sống động, có sức sống nội tại của nó.

Bài tham khảo 6:

Tiếng đàn em ấn tượng nhất của Thúy Kiều đó là khi Từ Hải chết, nàng bị bắt phải hầu rượu cho lũ Hồ Tôn Hiến. Lúc này, Kiều gảy lên khúc “Bạc mệnh” như đang khóc thương cho số phận bất hạnh của chính mình. Đó là tiếng khóc cho cái chết của Từ Hải, oán hận tên Hồ Tôn Hiến kẻ xấu xa nhưng vẫn sống nhởn nhơ ngoài kia. Sự nhục nhã, đau đớn khiến âm thanh của tiếng đàn vẳng lên như đang than khóc, nguyền rủa, tố cáo kẻ độc ác. Đồng thời đó là tiếng đàn buồn thương về sự bất công của xã hội phong kiến lúc bấy giờ đẩy con người vào tận cùng đau khổ mà không thể phản kháng được.

Bài tham khảo 7:

Âm nhạc luôn có sức truyền tải mãnh liệt, và tiếng đàn bi ai của Thúy Kiều khi Từ Hải chết, nàng bị bắt phải hầu rượu cho lũ Hồ Tôn Hiến đã khiến người đọc đau lòng, thương xót trước hoàn cảnh nghiệt ngã của nàng. Đó là lúc Kiều gảy lên khúc “Bạc mệnh” như đang khóc thương cho số phận bất hạnh chồng chất của chính mình. Cảm hứng bi kịch thích hợp với tiếng đàn nên Từ Hải không được nghe đàn lần nào mặc dù Từ là tri âm tri kỷ. Sống với Từ Hải phần nạn nhân trong tâm hồn Kiều coi như bị tiêu vong nên khúc “Bạc mệnh” kia không còn lý do tồn tại. Từ Hải chết, con người nạn nhân trong Kiều sống lại dữ dội nên tiếng đàn cũng ùa trở về với một sắc thái bi thảm chưa từng thấy. Tiếng đàn là ngôn ngữ không biết nói dối. Tiếng đàn không hề có chức năng che dấu tâm trạng mà có chức năng giải tỏa tâm trạng. Ở đây, ta thấy được một khúc nhạc khóc thương cho cái chết của Từ Hải, căm giận Hồ Tôn Hiến xấu xa, hèn hạ vẫn sống nhở nhơ, và ai oán cho số kiếp định mệnh oan nghiệt của Kiều. Sự nhục nhã, đau đớn khiến âm thanh tiếng đàn vẳng lên như đang than khóc, nguyền rủa, tố cáo kẻ độc ác, ghê tởm. Đằng sau tiếng khóc oán vọng trong tiếng đàn của Thúy Kiều, ta lại thấy được nỗi xót xa, đau đớn cùng nhân vật của Nguyễn Du. Mỗi lời thơ của ông đều có sức mạnh to lớn trên con đường nói lên tiếng nói con người về sự bất công của xã hội phong kiến chèn ép, đẩy con người đến đường cùng.

Bài tham khảo 8:

Trong Truyện Kiều, tiếng đàn của Thúy Kiều được miêu tả một cách tinh tế và sâu sắc bởi Nguyễn Du. Một trong những lần miêu tả đáng chú ý của là khi Thúy Kiều đánh đàn trong một lần được Nguyễn Du miêu tả. Tiếng đàn của Thúy Kiều không chỉ là âm thanh mà còn là một biểu hiện của tư tưởng nhân đạo trong Truyện Kiều. Nó truyền tải sự nhục nhã, đau đớn và căm giận của Thúy Kiều đối với sự bất công của xã hội phong kiewnse. Tiếng đàn của Thúy Kiều là một cách để cô thể hiện tình cảm, suy tư và lòng bi ai của mình đối với số phận bất hạnh chồng chất. Với sự tài hoa và tâm hồn bi kịch của Thúy Kiều, tiếng đàn của cô trở thành một phần không thể thiếu trong câu chuyện. Nó làm tăng thêm sự xúc động và đau lòng cho người độc, đồng thời cũng là một cách để Nguyễn Du thể hiện tình yêu và sự quan tâm đến nhân vật của mình. Trong tổng thể Truyện Kiều, tiếng đàn của Kiều là một yewuse tố quan trọng, mang đến sự chan thực và sâu sắc cho câu chuyện. Nó là một cách để tác giả truyền tải thông điệp về sự bất công và đau khổ trong cuộc sống, đồng thời khơi dậy lòng nhân đạo và sự đồng cảm của người đọc.