Giáo án ppt dạy thêm Ngữ Văn 8 kết nối: Bài 3 Ôn tập thực hành tiếng Việt trang 59

Giáo án điện tử dạy thêm Ngữ văn 8 sách kết nối tri thức: Bài 3 Ôn tập thực hành tiếng Việt trang 59. Bài soạn thiết kế nội dung trọng tâm, dễ hiểu, bài tập đa dạng, trò chơi thú vị, tạo sự thích thúhào hứng cho học sinh trong quá trình củng cố và ôn luyện kiến thức. Bản tải về có đầy đủ cả năm. Giáo viên có thể chỉnh sửa hoặc sử dụng ngay để giảng dạy.

Nội dung chi tiết

... Còn nữa ...

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG CÁC EM ĐẾN VỚI BÀI HỌC HÔM NAY!

KHỞI ĐỘNG

Các em thảo luận cặp đôi và trả lời câu hỏi: Theo em được biết thì có mấy cách trình bày đoạn văn? Kể tên các cách trình bày đoạn văn đó?

ÔN TẬP BÀI 3:

LỜI SÔNG NÚI

Thực hành tiếng việt: Đoạn văn diễn dịch và đoạn văn quy nạp

NỘI DUNG BÀI HỌC

01

NHẮC LẠI KIẾN THỨC ĐÃ HỌC

LÀM VIỆC CÁ NHÂN

Các em hãy dựa vào kiến thức đã học và trả lời câu hỏi:

Trình bày khái niệm đoạn văn diễn dịch và đoạn văn quy nạp

Đặc điểm của các đoạn văn trên là gì?

a. Khái niệm và đặc điểm đoạn văn diễn dịch và đoạn văn quy nạp

Đoạn văn diễn dịch

• Là đoạn văn mà câu đứng đầu khái quát toàn bộ nội dung, các câu tiếp theo triển khai cụ thể chi tiết từng ý theo câu chủ đề, làm rõ, bổ sung cho câu chủ đề.

• Các câu tiếp theo được triển khai bằng cách chứng minh, phân tích, giải thích, có thể đưa vào một số nhận xét, bộ lộ cảm xúc của cá nhân.

Đoạn văn quy nạp

• Là đoạn văn được trình bày cụ thể chi tiết từ nhỏ đến lớn, từ các ý rất chi tiết đến ý khái quát hơn, từ ý luận cứ cụ thể đến luận điểm bao trùm.

• Nằm ở cuối đoạn văn thường là các câu chủ đề khái quát à câu chủ đề không nhằm mục đích định hướng nội dung triển khai cho toàn đoạn ở các ý tiếp theo mà là đóng vai trò khép lại toàn bộ nội dung của đoạn ấy.

• Các câu trên được trình bày bằng các phương pháp như giải thích, lập luận, cảm nhận và rút ra quan điểm cá nhân.

b. Chức năng

Diễn dịch, quy nạp là hai kiểu tổ chức đoạn văn khác nhau nhưng đều đáp ứng yêu cầu cơ ản của một đoạn văn: thể hiện rõ chủ đề

Do có câu chủ đề, việc tiếp nhận nội dung đoạn văn trở nên thuận lợi hơn, dù câu chủ đề được đặt ở đầu đoạn hay cuối đoạn.

Hai kiểu đoạn văn này đặc biệt phù hợp với văn bản nghị luận.

02

HOẠT ĐỘNG CỦNG CỐ KIẾN THỨC

Nhiệm vụ 1: Trả lời câu hỏi trắc nghiệm

Câu 1: Đoạn văn diễn dịch là gì?

Câu 2: Đoạn văn quy nạp là gì?

Câu 3: Đoạn văn diễn dịch và đoạn văn quy này phù hợp với loại văn bản nào?

Câu 4: Tìm câu chủ đề trong đoạn văn sau

“Ta thường nghe: Kỉ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay chết theo nạn của vua; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh, một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa, các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có?”

(Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)

Câu 5: Chức năng của đoạn văn diễn dịch là?

Câu 6: Xác định kiểu đoạn văn dưới đây và cho biết dựa vào yếu tố nào mà em biết được?

“Những đứa con từ khi sinh ra đến khi trưởng thành, phần lớn thời gian là gần gũi và thường là chịu ảnh hưởng từ người mẹ hơn từ cha. Chúng được mẹ cho bú sữa, bồng ẵm, dỗ dành, tắm giặt, ru ngủ, cho ăn uống, chăm sóc rất nhiều khi ốm đau…Với việc nhận thức thông qua quá trình bé tự quan sát, học hỏi tự nhiên hàng ngày và ảnh hưởng đặc biệt các đức của người mẹ, đã hình thành dần dần bản tính của đứa con theo kiểu “mưa dầm, thấm lâu”. Ngoài ra, những đứa trẻ thường là thích bắt chước người khác thông qua những hành động của người gần gũi nhất chủ yếu là người mẹ. Chính người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu trong gia đình.”

Câu 7: Tìm câu chủ đề trong đoạn văn sau

“Một chiếc lá rụng có linh hồn riêng, một tâm tình riêng, một cảm giác riêng. Có chiếc tựa như mũi tên nhọn, từ cành cây rơi cắm phập xuống đất như cho xong chuyện, cho xong một đời lạnh lùng thản nhiên, không thương tiếc, không do dự vẩn vơ. Có chiếc lá như con chim bị lảo đảo mấy vòng trên không rồi cố gượng ngoi đầu lên, hay giữ thăng bằng cho tận tới cái giây nằm phơi trên mặt đất. Có chiếc lá nhẹ nhàng khoan khoái đùa bỡn, hay múa may với làn gió thoảng như thầm bảo rằng vẻ đẹp của vạn vật chỉ ở hiện tại: cả thời quá khứ dài dằng dặc của chiếc lá trên cành cây không bằng một vài giây bay lượn, nếu sự bay lượn ấy có vẻ đẹp nên thơ. Có chiếc lá như sợ hãi, ngần ngại rụt rè, rồi như gần tới mặt đất, còn cất mình muốn bay trở lại cành. Có chiếc lá đầy âu yếm rơi bám vào một bông hoa thơm, hay đến mơn trớn một ngọn cỏ xanh mềm mại.”

Câu 8: Sắp xếp các câu sau đây để hoàn thành một đoạn văn diễn dịch:

(1) Điện thoại thông minh không chỉ giúp chúng ta có thể liên lạc với nhau ở khoảng cách xa xôi, kết nối thông tin trên toàn thế giới mà còn giúp chúng ta tiếp cận với những kiến thức của toàn nhân loại.

(2) Có thể nói, điện thoại thông minh vừa mang tới lợi ích nhưng cũng mang tới nhiều tác hại cho con người.

(3) Thế nhưng, nó cũng đem lại cho chúng ta rất nhiều phiền toái như sự trói buộc, lệ thuộc vào điện thoại, những hệ lụy cho con trẻ như nghiện game hay internet, các thông tin đồi trụy, chưa được kiểm duyệt.