Giáo án ppt dạy thêm Ngữ Văn 8 kết nối: Bài 4 Văn bản 1 Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu

Giáo án điện tử dạy thêm Ngữ văn 8 sách kết nối tri thức: Bài 4 Văn bản 1 Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu. Bài soạn thiết kế nội dung trọng tâm, dễ hiểu, bài tập đa dạng, trò chơi thú vị, tạo sự thích thúhào hứng cho học sinh trong quá trình củng cố và ôn luyện kiến thức. Bản tải về có đầy đủ cả năm. Giáo viên có thể chỉnh sửa hoặc sử dụng ngay để giảng dạy.

Nội dung chi tiết

... Còn nữa ...

CHÀO MỪNG TẤT CẢ CÁC EM ĐẾN VỚI TIẾT HỌC HÔM NAY!

KHỞI ĐỘNG

THẢO LUẬN CẶP ĐÔI: Các nhóm trao đổi với nhau và trình bày một số hiểu biết của bản thân về các kì thi cho sĩ tử do nhà nước phong kiến tổ chức.

ÔN TẬP BÀI 4: TIẾNG CƯỜI TRÀO PHÚNG TRONG THƠ

ÔN TẬP VĂN BẢN 1: LỄ XƯỚNG DANH KHOA ĐINH DẬU

NỘI DUNG BÀI HỌC

01

HIỂU BIẾT CHUNG VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

LÀM VIỆC CÁ NHÂN

Các em dựa vào kiến thức đã học về văn bản và trả lời câu hỏi:

Trình bày hiểu biết của em về tác giả Tế Xương?

Trình bày những hiểu biết về tác phẩm

a. Tác giả

Tú Xương

(5 – 6 – 1870)

Quê ở làng Vị Xuyên huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định

  • Tên thật là Trần Tế Xương, hiệu Mộng Tích.
  • Cuộc đời ông chỉ gắn liền với thi cử với 8 lần. Mọi việc trong gia đình đều do một tay vợ ông lo liệu.

b. Tác phẩm

  • Bài thơ còn có tên gọi khác là Vịnh khoa Thi Hương.
  • Đề tài: Thi cử.
  • Nội dung: miêu tả lễ xướng danh khoa thi tại trường Nam 1897 thể hiện thái độ mỉa mai phẫn uất của nhà thơ đối với chế độ khoa cử nhốn nháo, ô hợp của xã hội phong kiến nửa buổi đầu và tâm sự của nhà thơ trước tình cảnh ấy.

02

NHẮC LẠI KIẾN THỨC BÀI HỌC

HOẠT ĐỘNG THEO NHÓM

Cả lớp thành 4 nhóm, các nhóm đọc văn bản Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu và trả lời câu hỏi: Trình bày nội dung chính của các cặp câu đề – thực – luận – kết?

a. Hai câu đề: “Nhà nước ba năm mở một khoa/

Trường Nam thi lẫn với trường Hà”

Thời gian mở khoa thi: ba năm một lần

Hình thức thi: Trường Nam thi lẫn với trường Hà

Sự lộn xộn láo nháo, lôi thôi thiếu nề nếp quy củ của cuộc thi

Thể hiện tình cảnh đất nước vô cùng nhốn nháo, lộn xộn trước sự áp đảo của ngoại bang.

b. Hai câu thực

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường miệng thét loa

Sĩ tử

Vai đeo lọ: dáng dấp luộm thuộm

Lôi thôi sĩ tử: đảo ngữ à nhấn mạnh vẻ nhếch nhác, không gọn gàng của những sĩ tử

Quan trường: dáng vẻ ra oai, nạt nộ

Họ không có tư thế của những sĩ tử đi thi, của người làm chủ kiến thức trong kì thi

Ậm ọe quan trường: đảo ngữ à làm nổi bật đối tượng người coi thi nói năng ậm ọe, ấp úng, ra oai gượng gạo.

Miệng thét loa: thấy rõ sự nhốn nháo, quá lộn xộn của cảnh trường thi.

Cảnh hỗn độn, nhếch nhác, tàn tạ không mang tính chất của cuộc thi.

c. Hai câu luận: “Lọng cắm rợp trời quan sứ đến/

Váy lê quét đất, mụ đầm ra”

quan sứ, mụ đầm à làm tăng sự lố bịch của cuộc thi

lọng cắm rợp trời à đón tiếp trang nghiêm, linh đình

váy lê quét đất à cách ăn mặc lòe loẹt , lố lăng

Sự phô trương về hình thức nhố nhăng, lôi thôi.