Nêu cảm nhận của em về hình ảnh người bà và tình cảm cháu dành cho bà.
Nội dung chi tiết
Đề bài: Nêu cảm nhận của em về hình ảnh người bà và tình cảm cháu dành cho bà.
Dàn ý:
1. Mở bài
- Giới thiệu về bài thơ “Bếp lửa” và tác giả Bằng Việt
- Giới thiệu về hình ảnh người bà và tình cảm cháu dành cho bà trong bài thơ.
2. Thân bài
- Hình ảnh người bà trong bài thơ
- Miêu tả ngoại hình và tính cách của người bà
- Sự xuất hiện của bà trong bối cảnh gia đình và cuộc sống hàng ngày
- Từ ngữ và hình ảnh mà tác giả sử dụng để miêu tả bà
- Tình cảm cháu dành cho người bà
- Cháu thương bà “biết mấy nắng mưa”. Đây là tình cảm chân thành và sâu sắc của cháu đối với bà.
- Cháu đã trải qua những thời kì khó khăn, như năm đói kém nhưng bếp lửa vẫn luôn ấm áp và đầy niềm tin.
3. Kết bài
- Tóm tắt lại cảm nhận và suy nghĩ chính về hình ảnh người bà và tình cảm cháu dành cho bà trong bài thơ “Bếp lửa”
Nhấn mạnh lại ý nghĩa của bài thơ và cảm nhận về sự ảnh hưởng của gia đình và truyền thống đối với cuộc sống con người.
Bài tham khảo 1:
Hẳn ai cũng có một quá khư bên người thân, gia đình. Trong thời kì đất nước chống giặc ngoại xâm, biết bao người đã rời khỏi gia đình để nhập ngũ, dốc hết sức mình vì đất nước. Nhà thơ Bằng Việt cũng có một tuổi thơ mà bố mẹ ông đều đi đánh giặc. Một mình sống với bà nhưng ông không hề cảm thấy cô đơn mà còn rất tự hào và vui sướng vì được sống bên bà. Ông đã sáng tác nên bài thơ “Bếp lửa” để nói lên tình cảm của ông dành cho bà cũng như khẳng đinh rằng bếp lửa không chỉ làm ấm tình cảm bà cháu mà còn sưởi ấm một đời người.
Bếp lửa là bài thơ cảm động mà tác giả Bằng Việt viết về hình ảnh và người và tình cảm cháu dành cho bà. Hình ảnh người bà hiện lên trong trang thơ thật gần gũi, bình dị nhưng cũng thật đẹp. Từ hình ảnh bếp lửa thân thương, ấm áp "bếp lửa chờn vờn sương sớm", những kỉ niệm về bà và những năm tháng tuổi thơ bên bà như con sóng cuộn trào trong dòng hồi ức của người cháu. Từ "ấp iu" gợi đến hình ảnh bàn tay bà kiên nhẫn, khéo léo, chắt chiu nhóm bếp mỗi sáng sớm. Hình ảnh bếp lửa ấy đã gợi lại cả một tuổi thơ có bà bên cháu, tuổi thơ ấy nhọc nhằn, thiếu thốn và khó khăn, có nạn đói, có chiến tranh. Gia đình cha và mẹ đi công tác không về, chỉ còn cháu ở với bà, bà cưu mang dạy dỗ, bà là chỗ dựa chở che cho cháu, là hậu phương vững chắc cho cha mẹ yên tâm công tác. "Tám năm ròng cùng bà nhóm lửa" rồi "khói hun nhèm mắt cháu", nhờ có bà mà cháu có ý thức tự lập, sớm biết lo toan và biết thương bà. Bà chăm chút từng miếng ăn giấc ngủ, bà bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học, tình thương của bà ấm áp như hơi ấm bếp lửa. Bài thơ còn là những suy ngẫm của cháu về cuộc đời bà, cả cuộc đời bà gắn liền với bếp lửa, ngọn lửa, bà chính là người nhóm lửa, người giữ ngọn lửa yêu thương luôn ấm nóng. Suốt "Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ" bà vẫn giữ thói quen dậy sớm nhóm lửa, đó chính là sự tần tảo, đức hy sinh vì con vì cháu của bà, mỗi bếp lửa bà nhóm lên đều là bếp lửa yêu thương, mang tới niềm vui sưởi ấm, san sẻ và "Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ".
Tình cảm của người cháu dành cho bà trong bài thơ hiện lên thật mãnh liệt, qua sự biết ơn của người cháu đối với người bà của mình.
Tóm lại, hình ảnh người bà và tình cảm cháu dành cho bà được tác giả Bằng Việt thể hiện một cách tinh tế và sâu sắc, nhắc nhở đến giá trị của gia đình và lòng biết ơn không ngừng nghỉ đối với những đóng góp vô bờ bến của người thân.
Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt không chỉ là một tấm gương về tình cảm thân thiết giữa người bà và cháu mà còn là một lời ca ngợi sâu sắc về tình yêu thương và sự hy sinh của người phụ nữ đã dành cả cuộc đời để chăm lo cho gia đình. Qua bài thơ này, ta nhận thấy mối liên kết bền chặt giữa người thân và giá trị về tình cảm gia đình rất quan trọng và thiêng liêng trong cuộc sống.
Bài tham khảo 2:
Có lẽ đối với mỗi người, năm tháng tuổi thơ luôn là chân trời kí ức chứa chan nhiều giá trị. Bởi ở đó, ta được đắm mình trong những suy tư ngây dại, được thỏa sức nô đùa mà chẳng vướng bận lo toan. Đặc biệt ở đó ta luôn có dáng hình tần tảo của những người bà, người mẹ hiền hậu, yêu thương và che chở cho ta ân cần. Nhà thơ Bằng Việt cũng không ngoại lệ, tuổi thơ của ông đã gắn bó với người bầ thân yêu, được bà nuôi nấng, dạy dỗ trong những năm tháng khó khăn, gian khổ. Để bày tỏ tấm lòng yêu thương và biết ơn bà, dù đang ở phương xa, nhà thơ vẫn để nỗi nhớ cất lời, để cảm xúc đưa lối mà viết nên một thi phẩm “Bếp lửa”. Bài thơ ca ngợi tình cảm bà cháu thiêng liêng sâu nặng đồng thời thể hiện tấm lòng kính yêu và niềm biết ơn vô hạn của cháu đối với bà.
Người bà hiện lên trong bài thơ là người bà giàu yêu thương, đôi tay bà "ấp iu" kiên nhẫn, khéo léo và chi chút để thắp lên bếp lửa nồng đượm. Bà cùng cháu trải qua những năm tháng tuổi thơ đầy khó khăn, nhọc nhằn, thiếu thốn "Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa". Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, gia đình chỉ còn lại bà và cháu nương tựa nhau do cha mẹ đi công tác. Sự hiện diện của bếp lửa chính là nhân chứng cho sự cưu mang, dạy dỗ, chăm sóc của bà dành cho cháu suốt tám năm cháu sống cùng bà. Tình bà ấm áp như bếp lửa, cuộc đời bà khó nhọc là vậy nhưng bà vẫn luôn dành cho cháu những điều tốt đẹp nhất: "Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe/ Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học". Bà là chỗ dựa cả về tinh thần lẫn vật chất của cháu, bà cưu mang đùm bọc đầy chi chút, để đến khi người cháu ở nơi xa nghe thấy tiếng chim tu hú quen thuộc của những cánh đồng quê mỗi mùa hè gợi nên tình cảnh vắng vẻ của bà nơi quê nhà. Cuộc đời bà gắn liền với bếp lửa, ngọn lửa, bà là người nhóm lửa, giữ, lửa và truyền lửa, ngọn lửa bà nhóm là ngọn lửa của tình yêu thương, của niềm tin, hy vọng. Suốt mấy chục năm, bà vẫn luôn tần tảo, hy sinh và chăm lo cho mọi người trong gia đình, bếp lửa bà nhóm lên mỗi sớm mai còn nhóm cả những tâm tình tuổi nhỏ. Bếp lửa bà nhen không chỉ là từ hòn than, que củi mà còn nhen bởi ngọn lửa trong trái tim bà, đó là ngọn lửa của sức sống, lòng yêu thương và niềm tin. Người bà trong bếp lửa của Bằng Việt không chỉ là đại diện cho người bà, người mẹ Việt Nam với những đức tính cao đẹp, sự hy sinh cao cả mà còn là người truyền lửa, nhen nhóm trong thế hệ sau tình yêu con người, tình yêu đất nước.
Qua nỗi nhớ của người cháu, hình ảnh bà hiện lên cùng những kí ức đẹp bên bếp lửa sớm hôm. Trong kí ức tuổi thơ của cháu là những lận đận, nhọc nhằn của bà khi phải tần tảo sớm hôm, bà thay các con chăm sóc, dạy dỗ cháu nên người. Ngày ngày, bà vẫn sớm hôm miệt mài nhen nhóm bếp lửa lo cho cháu cái ăn, cái mặc. Bếp lửa ấy còn nhen nhóm, thắp lên ngọn lửa yêu thương, nồng đượm của bà. Trong tác phẩm, mỗi lần cháu nhớ về bà là hình ảnh bếp lửa lại hiện lên, bếp lửa "nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi", "nhóm nồi xôi gạo mới thổi chung vui", "nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ",... Tất cả đã gợi lên những tình cảm thương yêu mà bà dành cho cháu. Hình ảnh bếp lửa lúc này không còn là một vật vô tri, vô giác nữa là nó mà một hình ảnh biểu tượng cho sự sẻ chia, vỗ về yêu thương của bà.
Trong dòng suy ngẫm của Bằng Việt, hình ảnh bà luôn thường trực, nỗi nhớ bà khôn nguôi, dạt dào đến vô bờ vô bến. Qua hai hình ảnh thơ đẹp đẽ cùng lối biểu cảm chân thành, kết hợp kể, tả, tác giả đã đưa chúng ta về với những thân thuộc của cội nguồn, của bà, của mẹ.
Bài tham khảo 3:
Tình cảm gia đình là mảng đề tài quan trọng của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Viết về đề tài này, đã có những tác phẩm ngợi ca tình mẫu tử, tình phụ tử thiêng liêng. Và nhà thơ Bằng Việt đã góp phần làm phong phú thêm chủ đề bằng tình cảm bà cháu sâu đậm trong bài thơ “Bếp lửa”. Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt ca ngợi tình cảm bà cháu thiêng liêng sâu nặng đồng thời thể hiện tấm lòng kính yêu và niềm biết ơn vô hạn của cháu đối với bà.
Hình ảnh người bà hiện lên trong trang thơ thật gần gũi, bình dị nhưng cũng thật đẹp. Từ hình ảnh bếp lửa thân thương, ấm áp "bếp lửa chờn vờn sương sớm", những kỉ niệm về bà và những năm tháng tuổi thơ bên bà như con sóng cuộn trào trong dòng hồi ức của người cháu. Từ "ấp iu" gợi đến hình ảnh bàn tay bà kiên nhẫn, khéo léo, chắt chiu nhóm bếp mỗi sáng sớm. Hình ảnh bếp lửa ấy đã gợi lại cả một tuổi thơ có bà bên cháu, tuổi thơ ấy nhọc nhằn, thiếu thốn và khó khăn, có nạn đói, có chiến tranh. Gia đình cha và mẹ đi công tác không về, chỉ còn cháu ở với bà, bà cưu mang dạy dỗ, bà là chỗ dựa chở che cho cháu, là hậu phương vững chắc cho cha mẹ yên tâm công tác. "Tám năm ròng cùng bà nhóm lửa" rồi "khói hun nhèm mắt cháu", nhờ có bà mà cháu có ý thức tự lập, sớm biết lo toan và biết thương bà. Bà chăm chút từng miếng ăn giấc ngủ, bà bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học, tình thương của bà ấm áp như hơi ấm bếp lửa. Bài thơ còn là những suy ngẫm của cháu về cuộc đời bà, cả cuộc đời bà gắn liền với bếp lửa, ngọn lửa, bà chính là người nhóm lửa, người giữ ngọn lửa yêu thương luôn ấm nóng. Suốt "Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ" bà vẫn giữ thói quen dậy sớm nhóm lửa, đó chính là sự tần tảo, đức hy sinh vì con vì cháu của bà, mỗi bếp lửa bà nhóm lên đều là bếp lửa yêu thương, mang tới niềm vui sưởi ấm, san sẻ và "Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ". Dù là người cháu trong bài thơ hay là bất kì ai cũng khó để quên ngọn lửa thiêng liêng bà nhóm, ngọn lửa của bà cho cháu hiểu thêm dân tộc mình, trở thành điều kì diệu nâng bước cháu trên suốt cuộc đời.
Thông qua hình ảnh bếp lửa, những kí ức đẹp đẽ của người cháu với bà được tái hiện vô cùng cụ thể và sinh động. Đó là những năm tháng tuổi thơ cháu được cùng bà nhóm lửa, cùng bà thức dậy sớm hôm. Trong miền kí ức tươi đẹp ấy là những ngày thiếu thốn nhưng được bà chở che, đôi tay nồng đượm ấp iu của bà đã nuôi nấng cháu lớn lên từng ngày. Bà đã yêu thương, cưu mang , che chở và dạy dỗ cháu, bà lo cho cháu từng miếng ăn, giấc ngủ, chỉ cháu làm những điều nhỏ nhặt, ân cần bảo ban cháu học hành. Xa ba mẹ, bà là điểm tựa tinh thần vững chắc cho người cháu. Tình cảm bà ấm áp như hơi ấm nồng đượm của ngọn lửa của quê khiến cháu mỗi lần nhớ về bà là hình ảnh bếp lửa lại hiện lên trong tâm trí. Cả cuộc đời bà gắn với bếp lửa yêu thương, người gìn giữ, nhen nhóm để ngọn lửa luôn ấm nóng "suốt mấy chục năm đến tận bây giờ. Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm". Bếp lửa cùng bà là bếp lửa của những yêu thương, của miền kí ức tuổi thơ tươi đẹp. Bởi thế mà trong tâm khảm của cháu, bếp lửa thiêng liêng vô ngần. Qua lời Bằng Việt, bếp lửa không còn là một sự vật vô tri vô giác nữa mà nó trở thành một hình ảnh giàu tính biểu tượng. Qua đó, bày tỏ lòng biết ơn thành kính, nỗi nhớ thương bà da diết của tác giả dành cho người bà yêu quý- một người bà tần tảo, rất mực yêu thương và hết lòng vì cháu.
Bà trong "Bếp lửa" của Bằng Việt chính là người phụ nữ Việt Nam muôn thuở tần tảo, nhẫn nại và yêu thương, bà gắn với bếp lửa, bếp lửa là tình bà ấm nóng, là tay bà chăm chút, là gian khổ và tình yêu của bà, bà là người truyền lửa - ngọn lửa của niềm tin, sự sống cho các thế hệ sau.
Bài tham khảo 4:
ằng Việt là thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông thường đi sâu khai thác những kỉ niệm thời thơ ấu, gợi nên những khao khát, ước mơ tuổi trẻ. Bếp lửa là một bài thơ im đậm dấu ấn phong cách của ông. Tác phẩm là dòng kỉ niệm đầy xúc động về tình bà cháu được ông ghi lại khi đang học tập tại nước ngoài. Qua đó cho thấy tấm lòng kính yêu và niềm biết ơn vô hạn với bà, cũng chính là đối với quê hương, đất nước.
Tác phẩm là dòng kỉ niệm, thấm đẫm nỗi nhớ của cháu về những năm tháng tuổi thơ hồn nhiên, luôn có bà ở bên. Để khơi nguồn cho chuỗi kỉ niệm thiêng liêng ấy, tác giả bắt đầu bằng hình ảnh bếp lửa lung linh :
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Điệp từ một bếp lửa vang lên đầy da diết ngay từ những dòng thơ đầu tiên. Hình ảnh bếp lửa bập bùng trong mỗi sáng mai là một hình ảnh quen thuộc, gần gũi với mỗi gia đình Việt Nam trước kia. Bếp lửa chứa chan biết bao tình yêu thương của bà, của mẹ, chứa đựng những vất vả, tảo tần của người phụ nữ Việt Nam. Hai từ láy chờ vờn và ấp iu được tác giả sử dụng tài tình, vừa gợi hình lại vừa thể hiện tình cảm: chờn vờn cho thấy hình ảnh ngọn lửa bập bùng cháy; còn ấp iu lại gợi nên sự tảo tần, đôi bàn tay gầy gò, xương xương những rất đỗi khéo léo của bà. Nhớ về bếp lửa, lòng cháu chợt trào dâng những kỉ niệm, cảm xúc về bà, bởi vậy câu thơ tiếp theo nỗi nhớ được gọi thành tên: Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Sau ánh lửa khơi nguồn cảm xúc, những kỉ niệm về bà như thước phim quay chậm cứ thế lần lượt hiện về trong tâm tưởng cháu. Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói cay xè mắt, mùi khói đượm vào trong kí ức, đượm vào trong tâm tưởng nhắc cháu nhớ về những năm đòi mòn đói mỏi, Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy. Đó là những kỉ niệm cay đắng, đau thương, là bóng đen lịch sử ghê rợn khi nạn đói 1945 đã khiến hai triệu đồng bào ta chết đói. Dù cuộc đời nhiều gian nan, khổ cực song chính trong khoảng thời gian ấy, bếp lửa vẫn không thôi bập bùng, vẫn cháy sáng, nồng ấm tình bà. Bởi vậy, cho đến những ngày của hiện tại nhớ về quá khứ, Bằng Việt vẫn thấy Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.
Đó còn là kỉ niệm về người bà hiền hậu, tảo tần, nuôi và dạy cháu khôn lớn, trưởng thành: Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế/ Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế !/ Mẹ cùng cha bận công tác không về/ Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe/ Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học. Tám năm ròng sống bên bà, những ngày sống xa cha mẹ nhưng cháu vẫn nhận được tình yêu thương đong đầy, khỏa lấp những chỗ trống từ bà. Bà chi chút từng miếng ăn, giấc ngủ, không chỉ vậy bà còn bảo ban, dạy dỗ cho cháu nên người. Bằng thủ pháp liệt kê, tác giả đã ca ngợi công ơn trời biển của bà, bà đã thay cha mẹ nuôi nấng, dạy dỗ cháu từ tấm bé. Nếu không có bà có lẽ cũng sẽ không có cháu thành công như ngày hôm nay.
Đọng lại trong kí ức cháu còn là hình ảnh của một người bà giàu đức hi sinh, gánh vác lo toan mọi chuyện trong gia đình. Những năm giặc càn quét, dưới sự giúp đỡ của hàng xóm bà trở về dựng lại túp lều tranh: Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi/ Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh, câu thơ cho thấy truyền thống đoàn kết, bao bọc nhau của dân tộc ta, họ luôn tắt lửa tối đèn có nhau. Nhưng điều làm cháu xúc động nhất chính là dù phải chống chọi một mình, thân đã già yếu nhưng bà không một lời kêu ca, oán thán, vẫn vững lòng dặn cháu : Mày có viết thư chớ kể này kể nọ/ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên. Bà là tượng đài vĩ đại, là chỗ dựa vững chắc để cho các con yêu tâm công tác chiến đấu. Đọc câu thơ ta có thể cảm nhận được biết bao sự kính trọng, lòng biết ơn vô hạn của người cháu dành cho bà.
Từ những kỉ ức tuổi thơ, cháu suy nghĩ về bà, về tình yêu thương, sự hi sinh và sự tiếp lửa của bà cho thế hệ tương lai: Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ/ Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm/ Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm/ Nhóm niềm yêu thương, khoai sẵn ngọt bùi/ Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui/ Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ/ Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa !. Từ nhóm được tác giả điệp lại bốn lần, vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng về đức hi sinh của bà. Mỗi sớm mai, bà tảo tần nhen lên trong cháu tình yêu thương, san sẻ niềm vui, hạnh phúc với mọi người và hơn cả bà vun đắp, khơi dậy những tâm tình, mơ ước tuổi nhỏ của cháu.
Bà chính là người khơi nguồn cho tất cả, tình yêu thương, niềm mơ ước, tương lai và hi vọng trong cháu. Bởi vậy câu thơ cuối vang lên đầy xúc động, tự hào: Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa. Từ ôi kết hợp dấu chấm than thể hiện niềm xúc động trào dâng; kì lạ là biểu tượng cho tình cảm của bà, cho sức mạnh niềm tin và nghị lực. Nó đã thắp lên trong cháu niềm tin, đã giữ tuổi thơ vẹn nguyên hạnh phúc cho cháu; hai từ thiêng liêng lại gợi liên hình ảnh bếp lửa ấm áp, là biểu tượng của tổ ấm, gia đình và rộng ra là quê hương đất nước. Bởi vậy, dù cháu đã đi xa có lửa trăm nhà, có niềm vui trăm ngả, cuộc đời đã có nhiều biến thiên thay đổi nhưng tình yêu và nỗi nhớ của cháu về bà vẫn vẹn nguyện, hiện hữu từng ngày: Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:/ - Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?. Khi càng khôn lớn trưởng thành tác giả lại càng cảm nhận rõ sự quan trọng của hơi ấm, tình cảm gia đình, điều đó càng khiến ơn với công lao to lớn của bà và thêm yêu cuộc đời, yêu đất nước hơn.
Với những hình ảnh chân thực gần gũi, giàu giá trị biểu tượng, Bằng Việt đã thể hiện tình cảm bà cháu sâu sắc, nồng đượm. Tình bà cháu, tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng nhất, đáng trân trọng nhất bởi vậy bài thơ cũng là lời nhắc nhở chúng ta phải biết sống yêu thương, trân trọng những tình cảm gia đình thiêng liêng, cao quý.
Bài tham khảo 5:
Tình cảm gia đình là một mảng đề tài quan trọng của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Viết về đề tài này, đã có những tác phẩm ngợi ca tình mẫu tử, tình phụ tử thiêng liêng. Và nhà thơ Bằng Việt đã góp phần làm phong phú thêm chủ đề bằng tình cảm bà cháu sâu đậm trong bài thơ "Bếp lửa".
Bài thơ ra đời năm 1963, khi ấy nhà thơ đang học tập và sinh sống ở nước bạn Liên Xô. Trong nước, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc đang dần đến hồi cam go. Nhớ về Tổ quốc trong những ngày tháng ấy, Bằng Việt gửi trọn niềm thương nỗi nhớ cho người bà tần tảo, vất vả mà giàu tình yêu thương của mình.
Bài thơ có tên là "Bếp lửa" nhưng một điều dễ nhận thấy là hình ảnh đầy sức gợi ấy được gợi cảm hứng từ người bà. Hay nói cách khác, bếp lửa trong kí ức nhà thơ được nhóm lên từ đôi tay của bà: sáng sáng chiều chiều bà nhen bếp lửa thổi gạo, nấu cơm một tay tảo tần nuôi cháu, Bởi thế, hình ảnh bếp lửa bập bùng trong bài thơ để hình ảnh thiêng liêng ấy gắn bó mật thiết với hình ảnh của bà. Nhắc về bà là nhớ về bếp lửa và nhớ về bếp lửa là nhớ về bà. "Bếp lửa" là bài ca về tình bà cháu ấm áp, cảm động. Bài thơ mở đầu bằng những hình ảnh thơ đầy ám ảnh:
"Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa".
Ngọn lửa "chờn vờn sương sớm" là ngọn lửa thực trong lòng bếp lửa được nhen lên trong mỗi sớm mai. Còn ngọn lửa "ấp iu nồng đượm" là ngọn lửa của yêu thương mà bà dành cho cháu. Bởi vậy nên nhắc đến bếp lửa là nhắc đến bà với bao tình thương và nỗi nhớ: "Cháu thương bà biết mấy nắng mưa". Những nắng mưa ấy là gì? Là cuộc đời đầy vất vả nhọc nhằn không chỉ nuôi con mà còn thay con nuôi cháu:
"Đó là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy".
Nhà thơ nhắc lại những năm tháng khủng khiếp của nạn đói 1945. Ngày tháng ấy đến người cha đương sức trẻ phải "khô rạc ngựa gầy" mà không đủ ăn. Vậy mà bà đã già cả, ốm yếu lại một tay nuôi dạy cháu. Cái đói, cái chết rình mò nhưng bà vẫn dành tất cả yêu thương mang đến cho cháu những bữa ăn nhọc nhằn:
"Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói"
"Khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay".
Cùng với hình ảnh bếp lửa, còn có một âm thanh tha thiết gắn với người bà: tiếng tu hú:
"Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế"
"Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trẽn những cánh đồng xa".
Tiếng tu hú thường gợi đến cảnh đồng vàng đầy lúa chín. Nhưng trong những năm tháng ấy, tiếng tu hú tha thiết thê lương là tiếng khóc, tiếng than cho những mất mát, nghèo đói. Được bà yêu thương, che chở, người cháu chạnh lòng mà mời gọi tiếng chim "đến ở cùng bà". Vậy là đối với cháu, bà đã trở thành biểu tượng của sự đùm bọc, chở che đầy cao cả. Cơ cực lên đến tận cùng khi:
"Giặc đốt làng cháy tàn cháy rụ
iLàng xóm bốn bên trở về lầm lụi".
Nhưng ngay cả khi ấy, khi mà mọi vật đã trở thành phế tích, hoang tàn, sự sống đã bị triệt tiêu thì ở bà vẫn ánh lên những tia lửa của tình yêu:
"Rồi sớm rồi chiều bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng".
Thời thế có thăng trầm biến chuyển thì lòng bà vẫn như ngọn lửa, trước sau vẫn bùng lên trong bếp nhỏ "chứa niềm tin dai dẳng" vào cuộc đời. Nuôi cháu ăn, bà còn "dạy cháu làm, chăm cháu học" không muôn để cái đói, cái nghèo vùi dập đời sống văn hóa, tinh thần của cháu. Đó là tư tưởng vô cùng tiến bộ hiếm thấy ở những người mà tuổi tác đã như bà. Điều đặc biệt là bà đã âm thầm đón nhận gian khó và lại một mình chịu đựng những nhọc nhằn, không muốn những cực nhọc của bản thân làm con cái lo lắng:
"Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo rằng nhà vẫn được bình yên".
Hình ảnh bà hiện lên chẳng những ấm áp yêu thương mà còn đầy cao cả, vị tha và giàu đức hi sinh. Đó phải chăng là tấm lòng muôn thuở của những người bà, người mẹ trên mảnh đất Việt Nam này? Suốt những phần đầu của bài thơ, nhà thơ vừa kể, vừa tỏ lòng thương nhớ, ngợi ca, biết ơn công lao của bà. Và đến đây, ông đúc kết lại về sự kì lạ và linh thiêng của hình ảnh bếp lửa và cũng là của bà:
"Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng! Bếp lửa!"
Mấy chục năm đã trôi qua, "niềm tin dai dẳng" trong bà chưa bao giờ lụi tắt, để đến tận bây giờ "bà vẫn giữ thói quen dậy sớm". Bà vẫn tiếp tục nhóm lên ngọn lửa của yêu thương, của sẻ chia ấm áp, của bầu trời tuổi thơ đẹp đẽ trong cháu,... Bếp lửa nhóm lên hay tay bà gây dựng? Tất cả đều là những miền kì lạ và thiêng liêng không ai gọi tên được bao giờ. Nhà thơ chỉ có thể thốt lên một tiếng "Ôi!" đầy cảm động. Những ân tình của bà theo cháu suốt cả cuộc đời. Để giờ đây:
"Giờ cháu đã đi xa
Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
Lời nhắc ấy là lời nhắc cháu đã mang theo từ bếp lửa của bà. Ngọn lửa ấy luôn cháy trong lòng cháu. "Chờn vờn", "ấp iu" nhưng dai dẳng và bền bỉ dù là "khói trăm tàu, lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả" vẫn không thể nào khiến nó bị lụi tàn hay che khuất.
Tình bà cháu trong "Bếp lửa" của Bằng Việt là tình cảm thiêng liêng cảm động. Bà dành cho cháu những hi sinh thầm lặng của phần đời mong manh còn lại. Bà là mái ấm chở che, bao bọc tuổi thơ dại khờ, yếu đuối của cháu trước những mất mát, đau thương của cuộc sống. Và người cháu, những năm tháng cháu đi trong đời là những năm tháng cháu nhớ đến bà với lòng tin yêu và biết ơn sâu sắc. Ngọn lửa bà trao cho cháu đưạc cháu giữ vẹn nguyên để trở thành ngọn lửa trường tồn, bất diệt.
Nội dung tư tưởng của "Bếp lửa" được thể hiện sâu sắc hơn nhờ những hình ảnh thơ sinh động, giàu sức liên tưởng: "bếp lửa chờn vờn sương sớm", "bếp lửa ấp iu nồng đượm",...cùng với đó là điệp từ "nhóm" đặc biệt được sử dụng ở cuối bài thơ. Song quan trọng hơn tất thảy là cảm xúc trân thành và lòng yêu mến vô bờ của nhà thơ đối với người bà kính yêu của mình.
Đọc và cảm nhận tình yêu thương chan chứa trong bài thơ "Bếp lửa", người đọc thấy yêu hơn, trân trọng hơn những ngọn lửa tỏa trong căn nhà mình cùng những người thân yêu ta có được trên đời.
Bài tham khảo 6:
Bài thơ Bếp Lửa là một bài thơ thuộc đề tài tình cảm gia đình của văn học Việt Nam ta thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Bài thơ đã được tác giả Bằng Việt gửi trọn vẹn tình cảm và nỗi thương nhớ sâu sắc cho người bà tần tảo, vất vả, giàu tình yêu thương của mình. Bài thơ là một bài ca về tình cảm bà cháu ấm áp và cảm động. Mở đầu bài thơ là hình ảnh về bếp lửa với những nỗi ám ảnh nguôi ngoai:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm…
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Ngọn lửa thứ nhất là ngọn lửa trong bếp lửa, còn ngọn lửa thứ hai chính là ngọn lửa của tình yêu thương mà bà dành cho cháu. Nhắc đến bếp lửa là nhắc đến bao tình yêu thương và nỗi nhớ về bà. Cuộc đời bà “biết mấy nắng mưa”, đầy nhọc nhằn và vất vả, không chỉ nuôi còn mà còn phải nuôi cháu:
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói…
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”
Đoạn thơ chính là hiện thực khủng khiếp của nạn đói năm 1945, trong nạn đói, người cha dù đang sức trẻ nhưng cũng “khô rạc ngựa gầy” vẫn chưa có đủ ăn. Cuộc sống khó khăn đã khiến người cháu quen với sự khổ cực, “khói hun nhèm mắt cháu” và khi hồi tưởng lại nhữn kí ức đó, người cháu cảm giác “sống mũi còn cay”. Cùng với hình ảnh bếp lửa, âm thanh của chim tu hú cũng đã gắn với người bà:
“Tu hú kêu trên những cánh đồng xa…
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa”
Cảm nhận của em về tình cảm bà cháu trong bài thơ bếp lửa của Bằng ViệtĐó là kỉ niệm về người bà hiền hậu, tảo tần đã nuôi dạy cháu khôn lớn và trưởng thành. Suốt tám năm ròng cháu sống bên bà, được bà chăm chút từng miếng ăn, giấc ngủ, bảo ban và dạy dỗ cháu nên người. Với biện pháp liệt kê, tác giả đã ca ngợi công lao trời biển của người bà. Trong kí ức của cháu, bà còn là một người bà giàu đức hi sinh, gánh vác và lo toan mọi việc trong gia đình.
“Giặc đốt làng cháy tàn, cháy rụi…
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”
Dù có phải một thân già chống chọi nhưng bà không một lời kêu ca, oán thán, vẫn vững lòng làm một chỗ dựa vững chắc cho các con yên tâm công tác chiến đấu. Câu thơ là tất cả tấm lòng yêu thương, sự kính trọng và lòng biết ơn vô hạn của người cháu đối với bà.
“Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ…
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”
Mỗi sớm mai bà lại tần tảo nhen lên trong cháu tình yêu thương, san sẻ niềm vui và hạnh phúc với mọi người, bà chính là người vun đắp và khơi dậy những tâm tình, mơ ước tuổi nhỏ của cháu. Chính vì vậy mà có đi xa, có lửa trăm nhà và niềm vui trăm ngả, cháu vẫn vẹn nguyên nỗi nhớ bà và bếp lửa:
“Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm lửa lên chưa”
Với những hình ảnh chân thực và gần gũi, giàu giá trị biểu tượng, bài thơ Bếp Lửa đã thể hiện tình cảm bà cháu sâu sắc, nồng đượm, đồng thời bài thơ còn nhắc nhở cho chúng ta phải biết sống bằng tình yêu thương, trân trọng những tình cảm gia đình thiêng liêng, cao quý.
Bài tham khảo 7:
Bếp lửa không chỉ là nơi thức ăn được nấu chín mà còn là trái tim ấm áp của gia đình. Bài thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt không chỉ đơn thuần là một tác phẩm văn chương, mà còn là một bức tranh sống động về tình cảm và kỷ niệm của tác giả với người bà yêu thương.
Tác phẩm đưa ta vào không gian của những năm đầu thập niên 1963, nơi mà tác giả cùng người bà trải qua bao kỷ niệm đáng nhớ. Bên chiếc bếp lửa ấm áp, trong cái lạnh của "sương sớm chờn vờn", người bà đã dành cả tâm huyết để nuôi nấng tác giả đến ngày trưởng thành.
Những hồi tưởng của tác giả không chỉ dừng lại ở những khoảnh khắc bên bếp lửa, mà còn mở rộng ra từ những tháng ngày khốn khó của nạn đói năm 1945. Trải qua cảm giác cay nơi sống mũi vì khói của bếp lửa, tác giả luôn ghi nhớ hình ảnh người bà với tình thương và hy sinh vô điều kiện.
Với mẹ cha phải đi công tác xa, người bà trở thành trụ cột duy nhất, chăm sóc và nuôi nấng tác giả từng ngày. Ngay cả khi đối mặt với những nguy hiểm từ những lần giặc đốt, người bà vẫn kiên định giữ vững bếp lửa, để người cha có thể an tâm làm nhiệm vụ của mình.
Bài thơ không chỉ đơn thuần là sự tưởng nhớ về quá khứ, mà còn là lời ca ngợi sự kiên trì, yêu thương và hy sinh của người phụ nữ Việt Nam. Mỗi lần bếp lửa bùng lên, không chỉ là nguồn nhiên liệu cho bữa cơm, mà còn là ngọn lửa của tình thương và hy vọng, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Tài liệu cùng môn học
- Trắc nghiệm văn 8 kết nối tri thức
- Giáo án word văn 8 kết nối tri thức
- Giáo án ppt văn 8 kết nối tri thức
- Giáo án word dạy thêm văn 8 kết nối tri thức
- Giáo án ppt dạy thêm văn 8 kết nối tri thức
- Soạn văn 8 kết nối tri thức
- Phiếu bài tập văn 8 kết nối tri thức
- Lý thuyết văn 8 kết nối tri thức
- Soạn ngắn văn 8 kết nối tri thức
- Câu hỏi xoay quanh Ngữ văn 8 kết nối tri thức
- Văn mẫu 8 kết nối tri thức
- Đề thi ngữ văn 8 kết nối tri thức
- Ppt trò chơi AI Ngữ văn 8 Kết nối tri thức
- Tóm tắt tác phẩm văn 8 kết nối tri thức
- Video AI mở đầu Ngữ văn 8 kết nối tri thức
Tài liệu khác
- Trắc nghiệm văn 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm địa lí 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm KHTN 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm công dân 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm lịch sử 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm toán 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm tin học 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm âm nhạc 8 kết nối tri thức
- => Xem nhiều môn hơn