Viết đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu) phân tích một chi tiết có tính chất trào phúng mà em ấn tượng nhất trong bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu.
Nội dung chi tiết
Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu) phân tích một chi tiết có tính chất trào phúng mà em ấn tượng nhất trong bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu.
Bài tham khảo 1:
Trong bài thơ “Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu” của Trần Tế Xương, có một chi tiết trào phúng đặc biệt là khi mô tả cảnh lễ xướng danh. Tác giả sử dụng hình ảnh để tạo nên một bức tranh hài hước và đầy châm biếm về cuộc thi. Cụ thể, trong bài thơ này, chúng ta thấy:
“Nhà nước ba năm mở một khoa
Trường Nam thi lẫn với trường Hà”.
Từ “nhà nước ba năm mở một khoa” đã đề cập đến việc tổ chức thi cử, nhưng tác giả lại thêm vào “trường Nam thi lẫn với trường Hà”. Điều này ám chỉ rằng việc thi cử không còn là của vua, mà đã trở thành một sự kiện hàng năm, thậm chí có phần hỗn tạp. Cảnh tượng sĩ tử vai đeo lọ, Ậm oẹ quan trường miệng thét loa càng làm tôn lên tính chất trào phúng của bài thơ. Tác giả châm biếm việc thi cử trở nên lãng phí và không còn đáng kính trọng như trước đây.
Tóm lại, chi tiết này không chỉ mang tính chất trào phúng mà còn thể hiện sự phản ánh của tác giả về thực tế xã hội thời đó. Bằng cách sử dụng hài hước và câm biếm, Trần Tế Xương đã tạo nên một bức tranh độc đáo về cuộc thi cử trong bài thơ của mình.
Bài tham khảo 2:
Trong bài thơ “Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu” của Trần Tế Xương, một chi tiết có tính chất trào phúng mà tác giả sử dụng đó là hình ảnh “lọ và quần áo lôi thôi” để miêu tả các sĩ tử. Bằng cách này, tác giả đã tạo ra một hình ảnh hài hước và trào phúng về việc các sĩ tử phải đối mặt với tình hình khó khăn và thiếu thốn trong việc học tập và thi cử. Hình ảnh này cũng gợi lên sự phân định giữa học vấn và thực tế cuộc sống, đồng thời tạo nên một tầm nhìn châm biếm về việc xướng danh khoa trở thành mục tiêu cao cả mà không phải ai cũng đạt được. Từ đó, tác giả đã thể hiện sự phức tạp và đa chiều của cuộc sống và xã hội thời đó.
Bài tham khảo 3:
Trong bài thơ “Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu” của Trần Tế Xương, tính chất trào phúng được thể hiện rõ qua hai câu thơ “Cờ kẻo rợp trời, quan sứ đến/ Váy lê quét đất, mụ đầm ra”. Tác giả sử dụng hình ảnh này để miêu tả cảnh lễ xướng danh khoa. Bằng cách này, ông tạo ra một hình ảnh hài hước và trào phúng về việc các sĩ tử phải đối mặt với tình hình khó khăn và thiếu thốn trong việc học tập và thi cử. Hình ảnh này cũng gợi lên sự phân định giữa học vấn và thực tế cuộc sống, đồng thời tạo nên một tầm nhìn châm biếm về việc xướng danh khoa trở thành mục tiêu cao cả mà không phải ai cũng đạt được. Từ đó, tác giả đã thể hiện sự phức tạp và đa chiều của cuộc sống và xã hội thời đó.
Bài tham khảo 4:
Câu thơ “Cờ kéo rợp trời, quan sứ đến/ Váy lê quét đất, mụ đầm ra” của Trần Tế Xương mang đậm nét trào phúng và châm biếm. Bức tranh hài hước trong câu thơ này phản ánh một hiện tượng xã hội phổ biến trong thời đại đó là sự lãng phí và sự chênh vênh của quan lại, quý tộc. Hình ảnh “Cờ kéo rợp trời” chỉ sự xa hoa, phô trương của các quan lại trong xã hội phong kiến. Họ đưa cờ cao vút, che kín bầu trời tượng trưng cho sự hào nhoáng và sự phô trường quyền lực của mình. Hình ảnh “quan sứ đến” khẳng định việc các quan lại thường xuyên diễn ra vào dịp khác nhau, với mục đích làm tôn vinh chính mình và củng cố vị thế xã hội của mình. Cuối cùng là hình ảnh “Váy lê quét đất” và “mụ đầm ra” cho thấy sự chênh vênh và sự khác biệt rõ giữa các tầng lớp xã hội. Trong khi quan lại diện những bộ trang phục xa hoa, lộng lẫy thì dân thường chỉ có thể mặc váy lê quét đất hoặc mặc đồ mà mụ bà đi ra, với tầng lớp dân thường thì không được sự quý mếm. Câu thơ này của Trần Tế Xương không chỉ là một lời phê phán chân thật về xã hội phong kiến lúc đó mà còn là những bức tranh hài hước và sâu sắc về sự chênh vênh, bất công xã hội.
Bài tham khảo 5:
Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu là một tác phẩm thơ trào phúng nổi bật của nhà thơ Trần Tế Xương. Em ấn tượng nhất trong bài thơ là hình ảnh những sĩ tử và quan trường được nhà thơ khắc họa bằng giọng điệu mỉa mai, châm chọc. Vốn lẽ, những sĩ tử đến đây đều là các thanh niên tài giỏi, thấu hiểu lễ nghĩa, là tương lai của đất nước. Nhưng lại xuất hiện với dáng vẻ lôi thôi, xộc xệch như những kẻ lang thang. Còn các quan trường vốn là người giữ chức vụ coi thi, phải là người học rộng, hiểu sâu, hành xử lịch sự, từ tốn với dáng vẻ oai nghiêm. Thì lại được nhà thơ gợi lên với dáng vẻ ậm oẹ thét loa. Từ gợi tả âm thanh ấy đã khắc họa dáng vẻ hèn mọn, kệch cỡm của những kẻ cầm trịch trong hội thi năm đó. Sự kết hợp của người thi kẻ quản đó tạo nên một trường thi thật là nhếch nhác. Mỗi từ được nhà thơ Trần Tế Xương sử dụng đều góp phần tô đậm sự trào phúng, chê cười của những đối tượng xuất hiện trong khoa thi.
Bài tham khảo 6:
Nguồn mạch trữ tình như được chiết xuất ra từ những điều mắt thấy tai nghe, từ những nhố nhăng, lôi thôi, lộn xộn trong ngoài, trên dưới nơi trường Nam năm Đinh Dậu:
“Nhân tài đất Bắc nào ai đó,
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.”
Câu thơ như một lời than; trong lời kêu gọi hàm chứa bao nỗi xót xa, tủi nhục và cay đắng. Nhân tài đất Bắc là những ông nghè, ông cống, những con người có lòng tự tôn dân tộc,… ở vùng Sơn Nam, ở Kinh kì Thăng Long ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ nhân tài, tinh hoa của đất nước. Ba tiếng “nào ai đó” phiếm chỉ càng làm cho tiếng than, lời kêu gọi trở nên thấm thía, lay gọi thức tỉnh. Chữ “ngoảnh cổ” gợi lả một thái độ, một tâm thế không thể cam tâm sống nhục mãi trong cảnh đời nô lệ. Phải biết “ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà”. “Cảnh nước nhà” là cái cảnh nhục nhã:
“Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu…
(…) Kẻ chức bồi người tước cu li
Thông ngôn, kí lục chi chi
Mãn đời, lính tập, trọn vị quan sang.”
(Á tế Á ca)
Tú Xương là một trong hàng vạn sĩ tử dự khoa thi Hương năm Đinh Dậu. Ông là người tham dự, là người chứng kiến,… Từ nỗi đau của người hỏng thi mà ông ngẫm về cái nhục của sĩ tử, của trí thức, của nhân tài đất Bắc. Nỗi đau nhục về mất nước như ngưng đọng uất kết lại thành tiếng thở dài, lời than, có cả những dòng lệ…
Bài tham khảo 7:
Trong bài thơ “Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu”, Tú Xương đã xây dựng nhiều chi tiết trào phúng. Nhưng tôi cảm thấy ấn tượng nhất với chi tiết khắc họa hình ảnh sĩ tử và quan trường. “Sĩ tử” vốn là những người thuộc tầng lớp trí thức trong xã hội phong kiến, theo nghiệp bút nghiên nên mang phong thái nho nhã. Nhưng hình ảnh “sĩ tử” ở đây lại hiện lên thật lôi thôi, nhếch nhác. Cách sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ, đưa từ láy “lôi thôi” lên đầu câu thơ đã gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Không chỉ vậy, khung cảnh trường thi lúc này không còn là chốn tôn nghiêm mà trở nên ồn ào, chẳng khác nào cảnh họp chợ nên quan trường mới “ậm oẹ” và “thét loa” - những người coi thi cũng chẳng còn cái phong thái nghiêm trang, trịnh trọng vốn có. Qua chi tiết này, người đọc cười đấy mà cũng buồn đấy trước tình cảnh đất nước lúc bấy giờ.
Bài tham khảo 8:
Chi tiết sĩ tử và quan trường được khắc hoạ rất sắc nét, bộc lộ tính cách kỳ thi và tính chất xã hội, đồng thời đây cũng là một chi tiết đầy tính chất trào phúng. Sĩ tử là người đi thi, quan trường là những ông quan coi thi, chấm thi có trách nhiệm trong việc thi cử. Bằng nghệ thuật đảo ngữ cùng với nghệ thuật trào phúng, tác giả đã vẽ nên trước mắt người đọc hình ảnh người thí sinh lôi thôi với những chai lọ trên vai thật là xốc xếch. Chữ “lôi thôi” này đặt ở đầu câu, gây ấn tượng mạnh, làm cho hình ảnh "vai đeo” chụp được tư thế và tư cách của những kẻ một thời được mang danh là kẻ sĩ, tiêu biểu cho ý thức xã hội phong kiến. “Lọ” ở đây người có người hiểu là lọ mực, có người hiểu là lọ đựng nước uống mà thí sinh phải mang theo. Dù là hiểu theo nghĩa nào, hình ảnh “vai đeo lọ” vẫn nổi lên thật mỉa mai cái vẻ xiêu vẹo, gãy đổ, lếch thếch, chẳng ra gì của những ông cử tương lai.
Bài tham khảo 9:
Trong bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu của Tú Xương có rất nhiều chi tiết thú vị. Nhưng tôi đặc biệt ấn tượng với chi tiết khắc họa hình ảnh quan sứ và mụ đầm:
“Lọng cắm rợp trời: quan sứ đến;
Váy lê quét đất, mụ đầm ra.”
Việc tiếp đón những kẻ cướp nước chẳng biết lúc nào lại trở nên trang trọng nhưng khôi hài như vậy. Đặc biệt hơn cả là việc tác giả miêu tả hình ảnh mụ đầm. Theo quan điểm lễ giáo phong kiến thì trọng nam khinh nữ. Phụ nữ không được những nơi trang nghiêm như trường thi. Vậy mà bây giờ lại có hình ảnh “mụ đầm ra” với “váy lê quét đất” khiến ta thêm nức cười đó mà cũng thật xót xa. Xã hội phong kiến đã suy tàn, thoái hóa đến mức nào.
Tài liệu cùng môn học
- Trắc nghiệm văn 8 kết nối tri thức
- Giáo án word văn 8 kết nối tri thức
- Giáo án ppt văn 8 kết nối tri thức
- Giáo án word dạy thêm văn 8 kết nối tri thức
- Giáo án ppt dạy thêm văn 8 kết nối tri thức
- Soạn văn 8 kết nối tri thức
- Phiếu bài tập văn 8 kết nối tri thức
- Lý thuyết văn 8 kết nối tri thức
- Soạn ngắn văn 8 kết nối tri thức
- Câu hỏi xoay quanh Ngữ văn 8 kết nối tri thức
- Văn mẫu 8 kết nối tri thức
- Đề thi ngữ văn 8 kết nối tri thức
- Ppt trò chơi AI Ngữ văn 8 Kết nối tri thức
- Tóm tắt tác phẩm văn 8 kết nối tri thức
- Video AI mở đầu Ngữ văn 8 kết nối tri thức
Tài liệu khác
- Trắc nghiệm văn 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm địa lí 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm KHTN 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm công dân 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm lịch sử 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm toán 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm tin học 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm âm nhạc 8 kết nối tri thức
- => Xem nhiều môn hơn