Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng).
Nội dung chi tiết
Đề bài: Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng).
Dàn ý: Bài thơ “Năm mới chúc nhau”
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Trần Tế Xương
Trần Tế Xương còn được biết đến với biệt danh Tú Xương, là một nhà thơ và người viết trào phúng văn học Việt Nam.
Ông được biết đến qua những tác phẩm văn học mang tính chất châm biếm, lên án sự pháp hóa của tầng lớp trung lưu Việt Nam.
Ông không chỉ là một nhà thơ, mà còn có “môn phái” và “môn đệ”.
Tác phẩm của ông đã để lại cho đất nước nhiều giá trị đến ngày nay
- Giới thiệu tác phẩm
Bối cảnh: Bài thơ được viết vào dịp Tết Nguyên Đán, một dịp lễ truyền thống quan trọng tại Việt Nam.
Nội dung chính: Tác giả thông qua những lời chúc Tết đầy tình cảm nhưng lại ẩn chứa sự phản ánh sâu sắc về những vấn đề xã hội phức tạp và bất công.
2. Thân bài
- Nêu những đặc điểm nổi bật và phong cách sáng tác của Trần Tế Xương
- Giải thích thể loại thơ trào phúng và lí do tại sao tác giả chọn thể loại này để sáng tác bài thơ “Năm mới chúc nhau”.
- Phân tích nội dung:
Bốn câu thơ đầu: Tác giả mỉa mai, chê bai những người trưởng giả học làm sang, biến tấu câu chúc quen thuộc của nhân dân ta để mang ý nghĩa khác
Bốn câu thơ tiếp: Châm biếm, lên án, phê phán những thành phần không có tài cán gì nhưng vẫn mua được chức quan cao trong triều
Bốn câu thơ cuối: Mỉa mai, giễu cợt thái độ của bọn quan lại “mừng nhau cái sự giàu” hay “mừng nhau lắm sự sinh con”.
- Cấu trúc và ngôn ngữ:
Cấu trúc bài thơ: Bài thơ không theo hình thức câu đối truyền thống mà là một đoạn văn với nhiều câu ngắn, thể hiện sự phản ánh tự nhiên, gần gũi với cuộc sống hàng ngày
Ngôn ngữ sử dụng: Trần Tế Xương đã sử dụng ngôn ngữ đơn giản, gần gũi với dân chúng nhưng qua đó lại phản ánh rõ nét những sự phân biệt giai cấp, sự tham nhũng và sự bất công xã hội.
3. Kết bài
Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Chia sẻ cảm xúc sau khi đọc xong bài thơ và rút ra bài học cho bản thân.
Xác định vị trí của bài thơ trong nền văn học Việt Nam và trong trái tim độc giả.
Bài tham khảo 1: Bài thơ Tự trào
Nguyễn Khuyến là môt nhà thơ, nhà văn và học giả nổi tiếng trong lịch sử văn học Việt Nam. Ông sinh ra ở làng Trung Đức, tỉnh Hà Tĩnh. Ông đã viết nhiều tác phẩm về tình yêu đất nước, xã hội và con người. Tác phẩm của Nguyễn Khuyến thường chứa đựng tinh thần yêu nước và trách nhiệm cộng đồng. Nhưng chẳng ai biết, trong Tự trào, Nguyễn Khuyến lại trở thành một vị quan bất tài tự trào phúng chính bản thân mình.
Tự trào được viết trong khi Nguyễn Khuyến cáo lão hồi hương, khi đất nước bị giặc xâm lăng nhưng ông chỉ có thể đứng nhìn. Là người đề danh bảng vàng, được ca tụng học rộng tài cao nhưng lúc này, ông cũng chẳng biết làm gì. Hết lời khuyên can nhưng không được, ông chán nản bỏ về quê vì không muốn chứng kiến cảnh xót thương. Nhưng cũng chính vì vậy, ông coi thường bản thân và viết nên bài thơ Tự trào trong khi đang ở quê. Không chỉ vậy, bài thơ còn là lời châm biếm xã hội lúc bấy giờ, những kẻ quan cao chức lớn để dân thường chịu khổ vì giặc.
Trong hai câu thơ đầu, Nguyễn Khuyến đã tự vẽ lên dáng hình của mình khi ấy:
“Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang,
Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng.”
Dường như lúc ấy, vị quan cũ trở về nhưng vẫn không cam lòng, làm bạn với rượu và ngâm thơ. Vậy nên giọng điệu bài thơ mới gàn dở như một ông lão đương lúc say mèm. Ông đã tự nói về mình: không giàu, không nghèo, không gầy, không béo. Dường như đó là con người bình thường đến không thể bình thường hơn, không có gì nổi bật. Trước đây, trong tay ông có chức quan, là người được ca tụng tài hoa. Nhưng khi về quê, khi thấy sự bất lực của mình, niềm tin như đã phai nhòa trong ông, biến vị tuấn tài đó trở nên bình thường như bao người khác!
“Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.”
Sự châm biếm bắt đầu rõ ràng hơn từ hai câu thực. Nguyễn Khuyến tự cười mình bằng hai chữ “chạy làng”. Ông ví việc mình cáo lão về quê chính là chạy trốn. Mà cũng đúng thật! Ông chạy khỏi hiện thực đau thương, chạy khỏi chốn cung đình cao rộng nhưng tù túng, trở về với thiên nhiên và tự do như ông hằng mong ước. Nhưng khi ấy, hành động này trong mắt chính nhà thơ lại đáng bị lên án. Ông như kẻ vô tâm chỉ biết từ xa đừng nhìn thế cục rối ren của đất nước. Nhưng hỡi ôi! Cái đau lòng và khiến Nguyễn Khuyến đau xót nhất lại nằm trong chính câu thơ, đó là cảnh “không còn nước”. Ván cờ dang dở như cuộc đời, còn chưa kịp cống hiến, quân cờ chưa kịp đi thì đã mất nước. Mà khi ấy, mất nước tức là hết, trong tay chẳng còn lại gì. Thế nên trước hành động chạy trốn của mình, ông lại càng thêm mỉa mai, giọng điệu càng thêm châm biếm!
Nhưng một vị quan nhỏ đã vậy, mà những kẻ quyền cao hơn lại có thái độ càng thêm bạc bẽo:
“Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.”
Nguyễn Khuyến đã khuyên can, đã gàn “bát sách” nhưng chẳng được, tiếng cười dân trở nên chua xót, cười đời, cười mình, cười thế sự vô thường. Khi trở về, ông say trong men rượu như để quên đi nỗi xót xa bên ngoài, lấy rượu để giải sầu, mượn rượu để nói ra nỗi lòng. Không chỉ châm biếm chính bản thân, Nguyễn Khuyến còn châm biếm cả một thế hệ học sĩ lúc bấy giờ. Những người có ăn có học, được bổng lộc của dân đen nhưng lại làm ngơ chính sự, chịu nhục để giặc đọa đày. Vì nỗi đó, ông mới thân lên câu kết:
“Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ,
Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng.”
Là một vị danh sĩ một thời, ấy vậy mà ông không làm gì được nên mới “ngán cho mình”. Tự trách mình kém cỏi, không xứng nhưng cả các bậc tiến sĩ hồi ấy cũng thật đang cười. Nào là bia xanh, nào là bảng vàng, nhưng những lúc thực sự cần lại không thầy. Như Nguyễn Khuyến, ông chọn về quê, tránh rời thế sự trên đời. Bởi bao lần ngăn vua không được, ông mới thực sự hiểu rằng:
“Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề”!
Bài thơ thể hiện sự tự nhận thức của Nguyễn Khuyến về tài năng, về vận mệnh của mình và một thời đại, một thế hệ. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc nhưng lại rất tinh tế, sâu sắc đã châm biếm từ bản thân đến thế hệ ngày ấy, khiến cho người đọc ngỡ ngàng. Vậy nên từ đây say trong men rượu, ông đồng ý bỏ hết về với thiên nhiên và tận hưởng những ngày tháng an nhàn, dù tâm vẫn lo lắng cho nghiệp nước, sự đời!
Bài tham khảo 2: Tác phẩm “Năm mới chúc nhau”
Trần Tế Xương hay còn gọi là Tú Xương vốn là một người thông minh, sáng dạ nhưng khốn nỗi thi cử bao nhiêu lần cũng không đậu. Nguyên nhân bởi xã hôi thời bấy giờ đương buổi rối ren loạn lạc, cái tài năng của ông bị vui dập bởi chế độ thuộc địa nửa phong kiến, bởi việc mua quan bán chức ầm ầm. Chính vì bất đắc dĩ trong việc học hành thi cử mà Trần Tế Xương thường trút hết nỗi niềm của mình vào thơ văn, thơ của ông không buồn mà là những tiếng cười mỉa mai châm biếm sâu cay, là cái roi mây quất vào mặt bọn cường quyền, thực dân những kẻ chẳng mấy ưa ông và ông cũng ngứa mắt bọn chúng.
Dù chỉ sống được 37 năm ngắn ngủi của cuộc đời, lại sống trong cảnh nghèo khó, xã hội nhiễu nhương nhưng Trần Tế Xương – một trí thức phong kiến đã có một cái nhìn rất chân thực về cuộc sống thời bấy giờ, thông qua những vần thơ trào phúng tưởng là chơi vui nhưng lại hóa hiện thực sâu sắc. Một trong số những bài thơ đó phải kể đến tác phẩm “Năm mới chúc nhau”.
Nhan đề bài thơ nghe có vẻ rất đỗi bình thường, năm mới thì những lời chúc tụng nhau vốn dĩ là chuyện rất nên làm, là những gì quen thuôc nhất khi dịp tết đến xuân về. Nhưng vào thơ của Tú Xương, cái lời chúc tết ấy lại có nhiều điều phải suy nghĩ và khi nghĩ ra rồi người ta mới thay được cái tiếng cười châm biếm thật sâu cay của “bậc thẩn thơ thánh chữ” (theo lời của Nguyễn Công Hoan). Những lời bài thơ như là tiếng chửi, tiếng mỉa mai những kẻ mà nhà thơ khinh ghét gọi là “nó”. Đọc thơ người ta dễ dàng nhận ra sự mâu thuẫn hài hước giữa nội dung và hình thức, sao nghe câu chúc mà giống câu chửi quá, quả thực là nhà thơ đang chế giễu mấy tên hợm hĩnh lố bịch ấy.
“Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.”
Tú Xương tham gia vào bài thơ vơi vị trí là kẻ thứ ba nghe chuyện, ông rất từ tốn bình tĩnh “Lẳng lặng mà nghe”, dể xem cái quân giả tạo, thối nát ấy chúc nhau như thế nào, và rồi ông đưa lại vào thơ bằng một giọng tự sự đầy giễu cợt. Năm mới, chúng ta thường trao cho nhau những lời chúc. Chúc nhau sống lâu trăm tuổi là một lời chúc đẹp. Thế nhưng, qua hai câu thơ trên ta lại có cảm nhận khác. Từ láy “lẳng lặng” kết hợp với từ “nó”, “đứa” ta nhận ra rằng đó là thái độ châm biếm của nhà thơ đối với bọn chúc. Chúc nhau trăm tuổi là câu chúc thường được con cháu chúc ông bà, thể hiện thái độ trang trọng, thành kính. Thế nhưng, ở đây Tú Xương lại chúc “chúc bạc đầu râu”, câu thơ như một tiếng cười, lời chế nhạo đầy khổi hài. Bởi người ta chỉ thường chúc nhau trăm tuổi bạc đầu chứ không ai chúc trăm tuổi bạc đầu râu. Chữ “râu” làm mất đi vẻ trang trọng, mang đến một tiếng cười chế nhạo đầy sâu sắc. Thái độ châm biếm của tác giả còn được biểu hiện rõ hơn qua những lời dự định đầy căn cứ của mình:
“Phen này ông quyết định đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.”
Trần Tế Xương tự nhận mình là “ông”, một cách xưng hô đầy trịnh trọng thể hiện thái độ của bậc trên. Cách xưng hô ấy khiến cho những kẻ nhố nhăng, tham lam bị xếp xuống hàng dưới “đứa”, “nó”. Câu thơ đã bộc lộ trực tiếp thái độ khinh rẻ của tác giả đối với bọn quant ham, vì quyền lợi mà bán dân, bán nước. Chẳng có gì tốt đẹp khi “lũ bạc đầu râu” không còn răng để nhai trầu. Trần Tế Xương lại một lần nữa thể hiện thái độ châm biếm, mỉa mai. Vẫn giọng điệu châm biewmse thâm thúy, sâu cay nhà thơ tiếp tục thể hiện tiếng cười đầy mỉa mai bọn trưởng giả học làm sang.
“Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu”
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu?
Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc,
Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu.”
Thật trớ trêu, trong khi ông Tú cũng như bao người khác “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” lại phải chứng kiến “gà ăn bạc”, “đồng rụng đồng rơi” vương vãi khắp nơi. “Trăm, nghìn, vạn mớ” của chúng dứt khoát không phải do mồ hôi nước mắt lao động mà là do sự vơ vét, bóc lột của người dân nghèo. Biện pháp nghệ thuật cường điệu, lối nói ngoa dụ đã vẽ ra được lòng tham vô đáy của lũ trọc phú trong thời đại bấy giờ.
“Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước, đứa mua quan
Phen này ông quyết định đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.”
Từ láy “lẳng lặng” tiếp tục được sử dụng trong câu thơ. Đó là thái độ khinh miệt, giọng điệu đầy châm biếm xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ. Khao khát được làm quan, được sống một cuộc sống giàu sang là một ước mơ chính đáng. Thế nhưng ở đây bọn quan lại là một thứ hàng hóa được bày ra để mua bán. Đồng tiền có thể mua được mọi chức vị trong xã hội, sẽ chẳng thể tìm ra được những người giỏi thật sự để đưa đất nước đi lên. Câu thơ “Đứa thì mua tước, đứa mua quan” đã diễn tả trực tiếp thực trạng nhố nhăng của bọn quan vô học. Bao sự trơ tráo vô liêm sỉ của chúng đã bị Trần Tế Xương lột trần, vừa chửi vừa la cũng đắt hàng. Trần Tế Xương đã khiến cho người được được một phen hả hê, bật cười bởi lũ quan lại vô học ấy chỉ biết chửi, biết la như những kẻ đầu đường xó chợ. Câu thơ là tiếng chửi châm biếm, hài hước mà sâu cay vô cùng.
“Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn
Phố phường chật hẹp, người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non.”
Ông Tú hết chế giễu bằng lối chúc sống lâu, sống sang thì lại quay ra chế giễu mấy cái mừng, nào là mừng sự giàu, mừng lắm con nhiều cháu. Tiền bạc mà vào miệng của ông Tú thì cũng như “mớ” rau dưa, lộn xộn, để gà cũng ăn được. Rồi thì con cháu nhà quan lại mà cũng “sinh năm đẻ bảy” chẳng khác mấy đám ô hợp. Ôi, theo cái dự đoán của ông Tú thì phen này chúng nó để lắm chỉ để ăn sao cho cốt hết số tiền bẩn thỉu do bọn ông cha hám tiền của chúng mày làm ra. Rồi cái lũ sâu bọ ấy đông đúc quá, phố phương cũng chẳng kham nổi lại phải bồng bế nhau lên núi mà ở thôi, chứ nơi nào chứa cho hết cái lũ chỉ quen bịp bợm của người dân nghèo khó.
Đó là thái độ mỉa mai giễu cợt về sự nhốn nháo của bọn người hợm của. Đọc những câu thơ trên, ta chỉ thấy buồn cười về một hiện thực nhố nhăng đầy lộn xộn của bọn quan trường. Qua những vần thơ trào phúng, ta càng thấm được tiếng cười đầy châm biếm của ông. Tiếng cười ấy không chỉ “độc” mà còn “thâm”, xoáy sâu vào tâm trí một hiện thực xã hội thời kí đó. Nhà thơ không một chút e dè, kiêng nể mà đã mạnh miệng buông thẳng những tiếng chửi đầy ẩn ý, thâm độc dành cho chúng nó.
Tác giả đã sử dụng phương thức biểu cảm để làm rõ nên những tiếng chửi, lời chế nhạo, mỉa mai sâu cay của mình. Đó là tính chất châm biếm bật ra từ sự mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức chúc nhau mà thực ra là để chửi, là để thể hihejen sự khinh ghét. Cùng với đó là giọng điệu thơ vừa dí dỏm, hài hước vừa chế giễu châm biếm đả kích sâu cay. Trần Tế Xương còn sử dụng cách diễn đạt theo kiểu ngoa ngôn kết hơp với các từ ngữ xưng hô hết sức nghệ thuật. Tất cả thể hiện cho phong cách nghệ thuật trào phúng sắc sảo của bậc thầy Trần Tế Xương.
Đọc thơ của Tú Xương, người ta thấy hiện lên rõ cái hiện thực oái ăm hài hước của lũ người nhố nhăng trong cái xã hội tạp nham đủ thứ người, thứ chuyện, tưởng như đùa. Qua đó, người ta cũng thấy được cái cảnh cơ cực, khổ sở của nhân dân thời bấy giờ, phải chịu sống dưới sự chèn ép của bọn người ô hợp, tức lắm, ghét lắm, mà không thể làm gì được. Tú Xương là người bản lĩnh, ông tuy bất đắc chí tại đường công danh nhưng thơ, văn của ông luôn đem lại một cái nhìn thật sâu sắc về hiện thực xã hội lúc đó, cũng phần nào xả được cái nỗi uất ức bị kìm kẹp dưới chế độ nửa phong kiến của nhân dân ta. Những tiếng cười chế giễu như thứ vũ khí đâm thẳng vào mặt bọn cầm quyền ngu si, mà chúng tuy cay cú nhưng chẳng thể làm gì được.
Bài tham khảo 3: Bài thơ “Lai Tân”
Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh là một tập nhật kí bằng thơ, và được viết trong thời gian hơn một năm trong các nhà tù của chính quyền Tưởng Giới Thạc ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Tập thơ này ban đầu được Bác viết cho chính mình, với mục đích chính là giữ cho tâm hồn an ổn và tinh thần mạnh mẽ trong thời gian Bác bị giam cầm và cũng là để tự tìm động lực cho ngày Bác được tự do.
Lai Tân là bài thơ thứ 96 trong tập Nhật kí trong tù (gồm Lời đề từ và 133 bài thơ chữ Hán) và Bác đã viết nó sau khi bị chuyển từ Thiên Giang đến Lai Tân. Bức tranh hiện thực trong bài thơ này, thể hiện rõ sự mỉa mai, châm biếm và phê phán của Hồ Chí Minh đối với giai cấp thống trị tại Lai Tân và đồng thời cả xã hội Trung Quốc thời kì đó.
Với tư cách là “người thư kí trung thành của thời đại”, Bác đã ghi lại một cách khách quan những cảnh:
“Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc
Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh
Chong đèn, huyện trưởng làm công việc.”
Hồ Chí Minh chỉ có có thể mỉa mai, châm biếm sâu cay bọn thống trị bằng ngòi bút trong hoàn cảnh tù đày, gông xiềng. Từ cái mặt bên ngoài đến tận cùng những hống hách bên trong của bộ máy thống trị Trung Hoa quốc dân đảng đã chứa đầy những mâu thuẫn. Tác giả “Lai tân” đưa ra ba gương mặt điển hình của bộ máy chính quyền Tưởng Giới Thạch đó là “Ban trưởng”, “cảnh trưởng”, “huyện trưởng”, cái chức “trưởng” của họ khá oai vệ, đầy uy lực nhưng việc làm của họ đầy khuất tất, bất chính.
Khuôn khổ bài thơ rát ngắn gọn nhưng lại được đặt liên tiếp ba chữ “trưởng” trong ba câu thơ đầu là sự “cố tình” dùng phép lặp của Bác trong việc dựng lên những chân dung tiêu biểu của giai cấp thống trị. Ba câu thơ – mỗi câu là một bức tranh sống động mang tính thời sự nóng hổi, chân thật đến từng chi tiết dược vẽ bằng nét bút bình thản, lạnh lùng. Bức thứ nhất này bày ra trươc mắt mọi người là hình ảnh một ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc. Bức thứ hai là hình ảnh cảnh trưởng tham lam, ăn tiền phạm nhân bị áp giải.
Cả ban trưởng và cảnh trưởng đều là những công cụ thi hành pháp luật rất đắt lực của cái xã hội đầy rẫy những bỉ lậu, xấu xa. Chúng khoác trên mình chiếc áo “công lí” để làm những việc bất công lí một cách thường xuyên hết ngày này đến ngày khác. Chức “trưởng” của chúng đã có, sự phạm pháp của chúng còn lớn hơn ngàn vạn lần. Tiếng cười trào lộng bật lên từ nghịch cảnh đó. Thoạt tiên, mới chắc chắc hẳn phải công minh, trong sạch nhưng ta thực sự bất ngờ khi biết chúng chẳng qua là những con mọt dân, gây rối, bắt bớ dân để mà tham nhũng, cờ bạc. chúng mượn cái danh để tự đặt ra cho mình cái quyền thích làm gì thì làm. Đất Lai Tân có ban trưởng, cảnh trưởng tường chừng cuộc sóng bình yên nhưng trớ trêu thay trật tự an ninh không được đảm bảo, những vi phạm pháp luật vẫn diễn ra đầy rẫy mà những kẻ đứng đầu bộ máy thống trị ở Lai Tân cũng chính là những kể phạm tội vậy mà chính là nơi để tội phạm có thể thịnh hành rộng rãi nhất, tiêu biểu hơn cả, nhiều hơn cả vẫn là tội phạm cơ bạc mà chính giai cấp thống trị nhà lao cũng là những đồng phạm.
Cái nghịch cảnh này là hiện thực thối nát của nhà tù Tưởng Giới Thạch không thể phủ nhận được. đó là một thực tế và thực tế này đã được Hồ Chí Minh phác lại qua một lời ăn năn, hối tiếc của tên cờ bạc:
“Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội
Trong tù đánh bạc được công khai
Bị tù con bạc ăn năn mãi
Sao trước không vô quắt chốn này?”
(Đổ - Đánh bạc – Nhật kí trong tù – Hồ Chí Minh)
Cấp dưới sống và hành động bê tha, tàn ác như thế, vậy mà cấp trên – huyện tưởng – vẫn đêm đêm “chong đèn lo công việc”. Mức độ mỉa mai, châm biếm của tác giả tăng dần. kích thước của những bức tranh về sau to hơn, rộng hơn bức trước. Từ chân dung một ban trưởng trông coi một phạm vi nhà tù nhỏ, hẹp, tới mọt cảnh trưởng cai quản một địa phận lớn hơn, đến một huyện trưởng cai trị một vùng rộng lớn và bao quát cả quyền của ban trưởng, cảnh trưởng.
Bức tranh thứ ba mở ra hình ảnh “Chong đèn, huyện trưởng làm công việc”, vẻ ngoài tưởng mẫu cách, sát sao với “công việc” nhưng thực ra lại là một kẻ quan liêu, vô trách nhiệm, không biết tay chân, cấp dưới làm những gì, phạm pháp những gì. Huyện trưởng “lo công việc”, hút thuốc phiện? Giữa thực trạng ấy, thử hỏi bình yên ở đâu? Câu trả lời là:
“Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”.
Câu trả lời bất ngờ đến mức khiến người đọc ngã ngửa. Thì ra là thế! Lời bình đó đã đi ngược lại với tất cả những mục ruỗng, thối nát của chính quyền Tưởng Giới Thạch được phơi bày ở trên. Từ lời bình đó đã vút lên một lời đả kích mạnh mẽ Tác giả “Lai tân” đã kết luận đầy châm biếm, mỉa mai sắc sảo và rất hùng hồn về cái xã hội ấy. Thủ pháp nói ngược của Bác đã làm bật ra tiếng cười trào phúng. “Trời đất Lai tân vẫn thái bình”. Đúng vậy! Nhưng chỉ một chữ “vẫn” cũng đủ “điếng người”. Một cái bĩu môi dài, một cái cười khẩy, một giọng nói kéo dàu bắt đầu từ chữ “vẫn” ấy.
Nghệ thuật nâng cao – quật mạnh được Bác sử dụng rất công hiệu ở câu thơ cuối bài thơ này đã lay tỉnh người đọc nhìn sâu vào xã hội ấy mà xem xét, đánh giá đúng thực chất của nó. Như con đà điểu thấy nguy hiểm là húc đầy vào sâu trong cát, giai cấp thống trị ở Lai Tân thấy trời đất thái bình là tưởng thấy yên ổn chúng bằng lòng với cách thái bình đó mà không ngờ rằng đó chỉ là cảnh thái bình giả dối, trong đó chất chứa rất nhiều sóng gió, hiểm nguy. Điều ấy cũng chỉ thể hiện sự ngu dốt, vô trách nhiệm hết sức của bọn chúng. Ba bức tranh – ba chân dung của ba kẻ đại diện cho giai cấp thống trị chế độ Tưởng Giới Thạch ghép lại với nhau thành một bức tranh lớn – một chân dung lớn đầy đủ, trọn vẹn về xã hội Trung Hoa quốc dân đảng.
Với nghệ thuật vẽ đường tròn đồng tâm, tác giả “Lai Tân” đã vẽ được một bức tranh sinh động mỗi lúc một toàn diện hơn của chế độ xã hội Tưởng Giới Thạch. Nhà “dột từ nóc dột xuống” chỉ qua một huyện Lai Tân mà cả bộ mặt thối nát, bỉ lậu của xã hội Tưởng được phơi bày. Tác giả đã phủ định triệt để tận gốc giai cấp thống trị ấy. Cái “loạn” của mảnh đất Lai Tân được tô đạm bằng màu xám, màu tối của những bê tha, xấu xa, vô trách nhiệm, rất quan liêu của võ bá quan. Và hơn thế, nó được “trang trí” bằng sự “thái bình” nhưng ai cũng hiểu trời đất Lai Tân “thái bình” như thế nào.
Lai Tân thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường Luật nhưng có kết cấu khá đặc biệt. Tính chất đặc biệt này bắt nguồn từ dụng ý châm biếm của tác giả đồng thời thể hiện tài năng của tác giả trong việc kết cấu một bài thơ châm biếm theo thể thơ vốn rất trang trọng và nghiêm ngặt. Bài thơ chia làm hai phần rõ rệt, chứ không phải bốn phần như thể Đường luật. Phần đầu gồm 3 câu đầu viết theo lối tự sự. Phần thứ hai chỉ có câu cuối mang tính chất biểu cảm. Phần tự sự kể lại việc Ban trưởng ngày ngày đánh bạc, cảnh trưởng giải tù và bóc lột họ, Huyện trưởng đêm đêm chong đèn hút thuốc phiện. Phần biểu cảm là thái độ của nhà thơ trước những hiện thực được chứng kiến.
Bài thơ “Lai Tân” đã khái quát được bộ mặt xấu xa, bỉ ổi của những con người cấp cao của tù Tưởng Giới Thạch. Bút pháp châm biếm nhẹ nhàng mà thâm thúy đã khiến “Lai Tân” trở nên vô cùng đặc sắc. Lời thơ ngắn gọn, không quá cầu kì trau chuốt, chỉ với 4 câu thơ thôi mà vị anh hùng dân tộc đã nói lên tiếng nói căm phẫn thay cho tiếng lòng của hàng triệu người vô tôi, những con người chán ghét thói ích kỉ, cậy quyền, yêu chính nghĩa và đấu tranh vì chính nghĩa.
Bài tham khảo 4: Bài thơ “Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu”
Nhà thơ Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương là một nhà thơ khá nổi tiếng. Các tác phẩm của ông đều xoay quanh hai mảng trữ tình và trào phúng. Nổi bật trong mảng thơ trào phúng có thể kể đến bài thơ “Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu”.
Từ khoa thi Bính Tuất (1886), do thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội, trường thi Hương Hà Nội bị bãi bỏ. Thực dân Pháp lo sợ sự bất bình của dân chúng nên đã tổ chức thi chung trường thi Hương Hà Nội với trường Nam Định (Nam Định), gọi chung là là trường Hà - Nam. Bài thơ được sáng tác trong thời gian Tú Xương tham dự kì thi Hương tại trường thi Hà – Nam. Vợ chồng viên toàn quyền Đông Dương Pôn Đu-me (Paul Doumer) và vợ chồng viên công sứ Nam Định Lơ Noóc-măng (Le Normand) có tới dự lễ xướng danh (ngày 27/12/1897).
Hai câu thơ mở đầu, tác giả Tú Xương đã giới thiệu khái quát về khoa thi Đinh Dậu:
“Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà.”
“Trường Nam” là trường thi ở Nam Định, “trường Hà” là trường thi ở Hà Nội. Đó là hai trường thi Hương ở Bắc kì thời xưa. Nhưng khi thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội thì trường thi ở đây bị bãi bỏ, các sĩ tử ở Hà Nội phải xuống thi chung ở trường Nam Định. Từ “lẫn” cho thấy quang cảnh bát nháo, lẫn lộn của trường thi. Điều đó làm mất đi vẻ trang nghiêm của kì thi Hương.
Tiếp đến là khung cảnh nhập trường và xướng danh hiện lên cũng vô cùng khôi hài:
“Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loa.”
“Sĩ tử” là tư dùng để chỉ tầng lớp trí thức trong xã hội phong kiến, đi theo nghiệp bút nghiên. Họ thường có phong thái nho nhã, điềm tĩnh. Nhưng hình ảnh “sĩ tử” trong bài thơ lại được miêu hiện lên với vẻ lôi thôi, nhếch nhác. Khung cảnh trường thi vốn là nơi trang nghiêm mà giờ chẳng khác nào cảnh họp chợ, viên quan coi trường thi thì “ậm oẹ” và “thét loa” - nhốn nháo không khác gì nơi chợ búa. Một chi tiết nhỏ nhưng cũng phản ánh được hiện thực đất nước lúc bấy giờ.
Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, tính trào phúng còn được đẩy lên khi tác giả miêu tả hình ảnh của “quan sứ” và “mụ đầm”. Một kì thi mang tính trọng đại của đất nước nhưng hình ảnh xuất hiện lại thật khôi hài, nhố nhăng - “lọng cắm rợp trời” gợi tả cảnh đón tiếp dành cho “quan sứ” - lũ cướp nước đầy long trọng. Không chỉ vậy, từ xưa, chốn trường thi là nơi tôn nghiêm, lễ giáo phong kiến vốn trọng nam khinh nữ, phụ nữ không được đến. Vậy mà bây giờ lại có hình ảnh “mụ đầm ra” với “váy lê quét đất” càng làm tăng thêm sự nực cười. Qua chi tiết này, chúng ta thấy được sự suy thoái của đất nước lúc bấy giờ. Tiếng cười trước cảnh tượng lố lăng nơi trường thi nhưng cũng là tiếc khóc cho cảnh ngộ mất nước lúc bấy giờ.
Hai câu cuối bộc lộ nỗi xót xa trước cảnh ngộ mất nước của tác giả Tú Xương:
“Nhân tài đất Bắc nào ai đó?
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.”
Ở đây, nhà thơ đã sử dụng câu hỏi “nhân tài đất Bắc nào ai đó” như một lời thức tỉnh các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Kẻ thù xâm lược vẫn còn đó, thì đường công danh này có ý nghĩa gì. Đó là nỗi nhục nhã, đau đớn vô cùng của một con người yêu nước.
Bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu mang đậm dấu ấn phong cách sáng tác của Tú Xương, khắc họa được cảnh ngộ đất nước lúc bấy giờ cũng như bộc lộ nỗi niềm đau đớn, xót xa của tác giả trước cảnh ngộ đó.
Bài tham khảo 5: Bài thơ “Ông phỗng đá” của Nguyễn Khuyến
Nếu như Xuân Diệu được mệnh danh là “ông hoàng của thơ tình” thì Nguyễn Khuyến lại như là một “nhà thơ của dân tình, làng cảnh Việt Nam”. Thơ của ông nói lên tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu gia đình, bạn bè, phản ánh cuộc sống thuần khổ của nông dân, châm biếm đả kích tầng lớp thống trị, đồng thời bộc lộ tấm lòng ưu ái với dân, với nước. Trong số tác phẩm đặc sắc đó, không thể không kể đến bài thơ “Ông phỗng đá” – đỉnh cao chói sáng trong thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến. Bài thơ là lời tự trào của tác giả khi đứng trước hình ảnh ông phỗng đá trên hòn non bộ.
Bài thơ trào phúng ngay từ nhan đề gợi hình ảnh “ông phỗng” - hình tượng đá thường được trưng trong văn hóa Việt Nam. Trong buổi dạy học ở nhà quan kinh lược Hoàng Cao khải, nhân thấy đôi phỗng đá ngoài vườn, thi sĩ Nguyễn Khuyến bèn tức cảnh làm bài thơ Ông phỗng đá.
Hình ảnh phỗng đá là hình ảnh rất quen thuộc ở làng quê Việt Nam, cũng như rất quen thuộc trong thơ ca. Với Nguyễn Dư là “thằng phỗng, ông phỗng”, còn đối với Nguyễn Khuyến - người để ý tới phỗng nhiều nhất lại là hình ảnh ông phỗng đá đang đứng cô đơn, lẻ bóng trên hòn non bộ ở giữa hồ. Hai câu thơ đầu là câu hỏi tu từ khắc họa hình ảnh ông phỗng đá:
Ông đứng đó làm chi hỡi ông?
Trơ trơ như đá, vững như đồng
Câu hỏi tu từ ngay khi vừa mở đầu vừa như là một sự băn khoăn, vừa như là sự mỉa mai và ngụ ý châm biếm của tác giả. Câu thơ cất lên phải chăng như một sự thăm dò công việc của ông phỗng đá. Thán từ “ hỡi” kết hợp với đại từ “ông” làm cho câu thơ mang giá trị biểu cảm cao, bộc lộ cảm xúc dâng trào. Tác giả hỏi ông phỗng đá đứng đó làm gì, dường như cũng có thêm sự mỉa mai, bởi vì chính bản thân ông phỗng đá cũng đâu biết mình đang làm công việc gì. Câu thơ tiếp theo càng làm rõ thêm bức chân dung về ông phỗng đá:
“Trơ trơ như đá, vững như đồng”
Từ láy “trơ trơ”, kết hợp với hình ảnh so sánh “ như đá”, “vững như đồng” càng làm rõ nét thêm hình ảnh của ông phỗng đá. Đó phải chăng là hình ảnh phỗng đá đứng bất động mặc kệ sự biến động của trời đất, hình ảnh ông phỗng đá trơ trơ không quan tâm tới xung quanh, lúc nào cũng vậy, cũng đứng đó như một kẻ bù nhìn? Hay là sự mỉa mai, phê phán của nhà thơ về những thói xấu ở đời, thói xấu của bọn quan lại không biết xót thương tới những cảnh lầm than của người dân trong cái xã hội cùng cực đó, chỉ biết như “ông phỗng đá” kệ mặc cuộc sống của những con người cùng cực ấy. Những dòng thơ trào phúng mang giọng điệu phê phán của Nguyễn Khuyến không chỉ xuất hiện trong những câu thơ trên, mà nó như một nỗi ám ảnh, day dứt, khiến nhà thơ trăn trở mãi, và nó còn xuất hiện trong bài “Lời vợ anh phường chèo”:
“Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề”
Hai câu thơ tiếp theo mở ra giúp ta hiểu rõ hơn về công việc, cũng như hình ảnh ông phỗng, đồng thời hiểu rõ được dụng ý mỉa mai sâu cay tầng lớp thống trị và tấm lòng nhà thơ:
“Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?
Non nước đầy vơi có biết không?
Cả bài thơ có bốn dòng thơ, nhưng lại tới ba câu là câu hỏi tu từ. Ba câu hỏi dồn dập nhau với nhiều ý tưởng: Ông phỗng đá đứng đó làm chi vậy? Trước mặt ông phỗng đá là giang sơn gấm vóc của Tổ tiên nhà, có phải muốn canh chừng, giữ gìn cho ai đó chăng? Và cái mảnh giang sơn đó giờ như nào? Hắn có biết chăng? Các câu hỏi dồn dập nhau, ý chừng cụ Tam Nguyên Yên Đổ như muốn khuynh đáo pho tượng, bắt buộc ông phỗng đá phải đáp lại, phải thốt lên thành lời..Nhưng ông phỗng đá sao trả lời được..Những câu hỏi ấy của nhà thơ như là lời tự trào, như một tiếng hú, tiếng kêu thất thanh trong nhân loại.Câu thơ “Đêm ngày giữ gìn cho ai đó?”, ý hỏi ông phỗng đá đang ngày đêm gìn giữ điều gì, có phải đang níu kéo cái đạo lý cương thường một thời của Nho giáo đang mất dần vị thế độc tôn? Câu thơ cuối cùng như là một sự trách móc khéo léo mà thâm thúy của nhà thơ:
“Non nước đầy vơi có biết không?”
Hình ảnh “non nước đầy vơi” gợi mở ra nhiều ý nghĩa. Non nước đầy vơi ấy không chỉ là hình ảnh giang sơn, núi đầy vơi như nào, khung cảnh ra sao. Mà “non nước đầy vơi” ở đây chính là cái thực trạng xã hội khi đó Nguyễn Khuyến sống. Đó là cái xã hội phong kiến đầy biến động: Thực dân Pháp đang rêu rao xâm lược, triều đình thì bạc nhược, quan lại thì bù nhìn, các phong trào đấu tranh yêu nước thì dập tắt. Với việc sử dụng liên tiếp hai câu hỏi tu tiếp ở đây không chỉ thể hiện thái độ mỉa mai, châm biếm của tác giả trước sự vô cảm, vô trách nhiệm của đám quan lại, triều đình phong kiến trước an nguy của đất nước, sự suy vọng của dân tộc. Mà phải chăng đó là sự tự trách mình của chính nhà thơ? Nguyễn Khuyến thấy mình như một kẻ thừa thãi trong guồng máy thống trị phong kiến. Ông trách mình vô dụng, trách bản thân cũng như một ông phỗng, cũng chỉ biết đứng nhìn chứ không giúp gì được cho dân, cho nước. Giọng điệu thơ của tác giả nhẹ nhàng, mà thâm thúy khác hẳn với tiếng trào phúng đầy suồng sã, chua cay, dữ dội của Tú Xương trong bài “Ông cử Nhu”:
“Sơ khảo trường Nam bác cử Nhu
Thật là vừa dốt mà lại vừa ngu”
Lê-ô-nit Lê-ô-nốp từng nói: “Mỗi tác phẩm không chỉ là một khám phá về nội dung, mà còn là phát minh về hình thức”. Quả đúng như vậy, bài thơ “Ông phỗng đá” không chỉ hấp dẫn người đọc bởi nội dung đặc sắc, mà còn bởi nghệ thuật vô cùng đọc đáo của Nguyễn Khuyến trong thơ trào phúng. Lối trào phúng của Nguyễn Khuyến trong bài thơ này là lối trào phúng gián tiếp, kín đáo và thâm thúy, ý định trào phúng của tác giả không bộc lộ trên bề mặt văn bản mà chìm sâu sau hình ảnh và từ ngữ. Không những thế, tác giả còn sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hết sức tài tình, ngôn ngữ, hình ảnh gần gũi đối với quê hương. Các từ láy, biện pháp tu từ so sánh được sử dụng linh hoạt trong bốn câu thơ khiến cho bài thơ trở nên đặc sắc. Đặc biệt, là cách sử dụng câu hỏi tu từ ba trên bốn dòng thơ, hỏi mà không có người trả lời, đã khơi dậy trong lòng đọc giả biết bao suy tư, băn khoăn về xã hội một thời. Tất cả những biện pháp nghệ thuật ấy đã giúp phần làm nổi bật hình ảnh ông phỗng đá giữa hòn núi non bộ, đồng thời còn là sự phê phán của tác giả giữa thực trạng xã hội đó, cái xã hội mà ở đó, quan lại triều đình thờ ơ trước sự sống còn của những người dân thấp cổ bé họng.
Bài thơ được ra đời trong hoàn cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến với những biểu hiện lố lăng, kệch cỡm. Ở đó mọi giá trị đạo đức truyền thống đã bị đảo lộn, còn cái mới lại mang bộ mặt của kẻ xâm lược. Ngòi bút thâm trầm mà sâu cay của Nguyễn Khuyến đã chĩa mũi nhọn vào những chỗ hiểm yếu nhất của cái ung nhọt ấy. Trong “Ông phỗng đá” nhà thơ đã đem ra trào phúng, châm biếm, hình ảnh triều đình, quan lại, bạc nhược thờ ơ trước những nỗi đau khốn cùng của người dân. Để có được sự thành công khi sử dụng lối trào phúng ấy, chính Nguyễn Khuyến cũng là người trong cuộc, ông cũng là người làm quan một thời, là người trơ trơ như ông phỗng đá không giúp ích gì được cho dân, cho nước. Tính tự trào của bài thơ cũng hé mở cho ta nhận thấy, nghe thấy, chứng kiến cuộc đối thoại của nhà thơ với chính mình – tiếng nói phản tỉnh của một người trong cuộc. Đó cũng chính là tiếng nói phản chính thống, một hành vi tưởng như là nói ngược nhưng thực chất lại phản ánh một cách chính xác nhất bản chất của xã hội và sự tha hóa của lớp người đại diện cho tinh hoa của thể chế đương thời.
Tuy chỉ là một bài thơ ngắn, thế nhưng tác phẩm không chỉ giúp ta hiểu rõ hơn về nghệ thuật thơ trào phúng, mà còn khiến tả cảm nhận rõ hơn thực trạng xã hội phong kiến với những “ông phỗng” thờ ơ trước vận mệnh của nhân dân. Chính vì thế, lớp bụi thời gian có thể phủ nhòa đi mọi thứ, nhưng bài thơ này cùng giá trị châm biếm, mỉa mai sâu cay thì vẫn còn mãi như minh chứng cho tấm lòng lo lắng cho “non nước” của nhà thơ Nguyễn Khuyến.
Tài liệu cùng môn học
- Trắc nghiệm văn 8 kết nối tri thức
- Giáo án word văn 8 kết nối tri thức
- Giáo án ppt văn 8 kết nối tri thức
- Giáo án word dạy thêm văn 8 kết nối tri thức
- Giáo án ppt dạy thêm văn 8 kết nối tri thức
- Soạn văn 8 kết nối tri thức
- Phiếu bài tập văn 8 kết nối tri thức
- Lý thuyết văn 8 kết nối tri thức
- Soạn ngắn văn 8 kết nối tri thức
- Câu hỏi xoay quanh Ngữ văn 8 kết nối tri thức
- Văn mẫu 8 kết nối tri thức
- Đề thi ngữ văn 8 kết nối tri thức
- Ppt trò chơi AI Ngữ văn 8 Kết nối tri thức
- Tóm tắt tác phẩm văn 8 kết nối tri thức
- Video AI mở đầu Ngữ văn 8 kết nối tri thức
Tài liệu khác
- Trắc nghiệm văn 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm địa lí 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm KHTN 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm công dân 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm lịch sử 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm toán 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm tin học 8 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm âm nhạc 8 kết nối tri thức
- => Xem nhiều môn hơn