Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học (chủ đề và nhân vật trong tác phẩm truyện)
Nội dung chi tiết
Đề bài: Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học (chủ đề và nhân vật trong tác phẩm truyện)
Dàn ý
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Đánh giá khái quát về phong cách sáng tác của Thạch Lam.
- Giới thiệu chủ đề tác phẩm về tình yêu thương con người và cuộc sống
2. Thân bài:
2.1. Tóm tắt truyện
Văn bản xoay quanh một lần trở về quê thăm bà của nhân vật Thanh - mồ côi cha mẹ, sống cùng bà. Trong cảnh bình yên và thong thả của chốn xưa, những hình ảnh quen thuộc hiện lên, và bên cạnh mái tóc của bà, mùi hương hoàng lan nơi vườn và bên tóc mai của Nga khiến chàng trai trẻ xốn xang. Nhưng câu chuyện vẫn khép lại trong cảnh Thanh trở về tỉnh.
2.2. Phân tích chủ đề
- Chủ đề xuyên suốt trong tác phẩm là tình yêu thương con người và cuộc sống.
- Được thể hiện thông qua hành động, lời nói, cử chỉ, cảm xúc của nhân vật Thanh, mối quan hệ giữa Thanh và các nhân vật khác: bà và Nga.
2.3. Đánh giá chủ đề và ý nghĩa của nhân vật trong việc thể hiện chủ đề, rút ra ý nghĩa với cuộc sống
- Ca ngợi những tình cảm trong sáng tốt đẹp.
- Thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu cảnh vật quê hương.
- Niềm tin vào tương lai.
3. Kết bài:
- Tổng hợp và khẳng định giá trị của 'Dưới bóng hoàng lan'.
- Nêu cảm nghĩ
Bài tham khảo 1: Hai đứa trẻ
Hai đứa trẻ là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách viết độc đáo của Thạch Lam, tác phẩm đã truyền tải đến người đọc rất nhiều cảm xúc trân quý và gợi lên trong tâm tưởng độc giả niềm say mê sâu sắc.
Nhà văn từ những chi tiết bé nhỏ của tác phẩm đã thể hiện rõ khát vọng và nỗ lực hướng đến ánh sáng của những kiếp người cùng khổ trong bóng tối, ông trân trọng và nâng niu những mơ ước ấy bằng những hình ảnh và ngôn từ bình dị nhất. Mạch kể của truyện ngắn chậm rãi và nhẹ nhàng đưa độc giả đến với mọi ngóc ngách của phố huyện, câu chuyện mở đầu bằng tiếng trống thu vang động giữa không trung như một hồi chuông báo hiệu ngày dài đã tàn, mở ra cuộc sống về đêm ảm đạm. Ánh sáng dần tắt, bóng tối bao trùm, truyện ngắn mở ra cả những góc khuất bóng tối của đời người.
Trước hết là thân phận hai mẹ con chị Tí. Họ xuất hiện vào lúc “trời nhá nhem tối”. Cái nơi mà họ xuất hiện là không rõ ràng “ở trong ngõ đi ra”. Cả hai đều mang không biết bao nhiêu là đồ đạc. Mẹ con chị Tí đi ra từ bóng đêm để đến cái mốc gạch thắp ngọn đèn dầu le lói giữa đất trời phố huyện mênh mang. Chẳng sáng được là bao, nó còn gợi lên cái leo lét tối tăm của một người mẹ cùng với đứa con nhỏ đi tìm kế sinh nhai khi trời chạng vạng cả một ngày mò cua bắt ốc và đêm đến vẫn tiếp tục cuộc mưu sinh. Mẹ con chị Tí là hình ảnh của con cò trong ca dao Việt Nam…
Kiếp đời tàn thứ hai xuất hiện trên ‘cây đèn kéo quân’ phố huyện là bà cụ Thi hơi điên điên. Bà cụ uống rượu cười khành khạch làm Liên hơi sợ. Nhiều khi người ta cười khi chẳng còn khóc được nữa, bà cụ nuốt từng ngụm rượu như muốn nuốt trôi đi từng ngụm đắng cay của cuộc đời. Ta chẳng thấy một bà già điên, ta thấy ái ngại cho một người già có lẽ thiếu thốn tình thương trong cuộc đời quá đỗi vất vả này.
Nhân vật thứ ba góp vào những cuộc đời tàn phố huyện là bác phở Siêu. Sau hai người đàn bà côi cút ta lại gặp một người đàn ông lẻ loi. Bác phở Siêu xuất hiện vào lúc trời đã đi vào đêm, đường phố huyện và các ngõ con chứa đầy bóng tối. Người đàn ông ấy lúi cúi nhóm lửa, bóng của bác “mênh mang ngả xuống một dải đất và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngõ” đã gợi cho ta con đường bế tắc của thân phận chị Tí khi ra khỏi ngõ để rồi bác Siêu lại chui đầu vào ngõ. Phố huyện lơ thơ những con người nghèo đói. Phở của bác Siêu không phải là món ăn dành cho họ. Bác Siêu hy vọng có những người khách sang từ Hà Nội về, nhưng đoàn tàu rầm rộ đi ngang ga xép, không dừng lại. Chỉ cần vài đêm chuyến tàu không dừng lại ở ga xép, phở sẽ thiu thối thành đồ bỏ. Bác Siêu sẽ hoàn toàn tay trắng.
Số phận của chị em Liên gây ấn tượng nhất về sự quẩn quanh bế tắc của người dân phố huyện. Hai đứa vốn là con của gia đình công chức ở Hà Nội. Nhưng rồi cha thất nghiệp dắt vợ con về quê nội. Mẹ của chúng đầu tắt mặt tối suốt ngày để làm hàng xáo. Chị em Liên phải trông coi lẫn nhau, đồng thời phải bán một cửa hàng tạp hóa bé xíu để góp chút tiền còm vào kế sinh nhai. Hai đứa trẻ có tâm hồn rất trong sáng của tuổi thơ. Vậy mà đêm đêm hai đứa trẻ không còn bản năng đợi chờ cha mẹ. Chúng chỉ biết ngắm sao trời, theo dõi tỉ mỉ đường bay của những con đom đóm. Và thật tội nghiệp khi hạnh phúc lớn nhất của chúng chỉ là chờ đợi chuyến tàu đêm.
Và ánh sáng đã đến được nơi tận cùng của bóng tối. Chân thực và mờ ảo, ánh sáng xuất hiện trong từng thước phim quay chậm của truyện ngắn, từ ánh chiều tà nơi bầu trời phía Tây đến ngọn đèn của gánh hàng chị Tí và cả ánh sáng vụt đi trong đêm của chuyến tàu muộn. Giữa vô vàn màu sắc lung linh hiện trên trang văn thì tâm hồn Liên và An lại là ánh sáng rực rỡ nhất, ấy là vẻ đẹp của những tấm lòng trẻ thơ đầy ắp tình thương và niềm tin vào cuộc sống được Thạch Lam gợi lên từ những chi tiết nhỏ nhất. Ngoài tâm hồn trong trẻo của hai đứa trẻ, ánh sáng nổi bật thứ hai trong tác phẩm là tấm lòng tinh tế của nhà văn, Thạch Lam bằng tâm hồn sâu sắc và trái tim ấm nóng tình thương đã nhìn thấy được ước mơ từ tận sâu bên trong của trẻ thơ.
Thạch Lam cùng với truyện ngắn Hai đứa trẻ đã góp phần thêu dệt nên sự rực rỡ của dải lụa văn học nước nhà và tạo ra nhiều con sóng ngầm trong cảm xúc của độc giả khiến bao thế hệ về sau vẫn mãi luôn khắc ghi phong cách viết của nhà văn.
Bài tham khảo 2: Chữ người tử tù
Nguyễn Tuân là nhà văn lớn của văn học lãng mạn Việt Nam với phong cách sáng tác độc đáo, tài hoa. "Chữ người tử tù" được biết đến là một trong những tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Tuân. "Chữ người tử tù" là thiên truyện xuất sắc nhất của ông, trong đó khắc họa thành công hình tượng nhân vật Huấn Cao.
Nguyễn Tuân sống là một bản gốc và không để lại một bản sao nào, in đậm bản ngã độc đáo. Những nét đặc sắc này in đậm trong từng sáng tác, trong đó phải kể đến tập “Vang bóng một thời” với truyện ngắn “Chữ người tử tù”. Tác phẩm xuất hiện lần đầu vào năm 1938 trên tạp chí Tao đàn, được xem là “trang hoa, tờ hoa” trong sự nghiệp của Nguyễn Tuân. Và đúng như đề tài sáng tác, truyện ngắn thể hiện nỗi niềm tiếc nuối cho một nét văn hóa đẹp đã tàn lụi và qua đó nói lên sự trân trọng của tác giả đối với cái đẹp, với những con người tài hoa bất đắc chí.
Trước hết, tác giả đã thể hiện chủ đề của tác phẩm là quan niệm về cái đẹp và cái thiện. Với Nguyễn Tuân, "cái tài", "cái tâm" vốn không thể tách rời, cái đẹp không thể chung sống lẫn lộn với cái xấu, cái ác. Chủ đề được thể hiện qua cuộc gặp gỡ trong cảnh ngộ đặc biệt giữa Huấn Cao và viên quản ngục. Thời gian và không gian gặp gỡ của Huấn Cao và viên quản ngục rất đặc biệt, đó là vào những ngày cuối cùng trong cuộc đời Huấn Cao ở chốn ngục tù. Dù vốn họ là những kẻ đối nghịch với nhau, một người là tử tù - chống lại triều đình, một người là viên quản ngục - đại diện cho trật tự xã hội đương thời, thế nhưng, họ đều là những người say mê cái đẹp. Huấn Cao là nghệ sĩ tài hoa còn viên quản ngục là người coi trọng cái đẹp. Cuối truyện, Huấn Cao khuyên viên quản thay chốn ở, tìm về nơi nhà quê, thoát khỏi cái nghề này rồi hãy nghĩ đến việc chơi chữ. Nơi này lẫn lộn, nghề này lại chẳng có thiên lương,
Qua việc xây dựng nhân vật Huấn Cao, tác giả tác giả đã làm nổi bật lên triết lý nhân sinh sâu sắc. Người nghệ sĩ chân chính không chỉ có tài năng mà còn cần cả cái tâm trong sáng. Huấn Cao là một người tài giỏi, miêu tả nổi bật tài viết chữ được nhiều người biết tới: “Tôi nghe ngờ ngợ. Huấn Cao! Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn La vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?”. Nhưng nếu chỉ có tài hoa và khí phách không thôi, Huấn Cao sẽ trở thành một nhân vật khiếm khuyết. Cái tâm trong sáng làm cho nhân vật hiện lên đẹp một cách toàn mĩ, lý tưởng, hội tụ đầy đủ tất cả tinh hoa. Tài và tâm sẽ làm nên giá trị đích thực của người nghệ sĩ. Mối quan hệ giữa cái tài, cái đẹp với cái tâm, cái thiện luôn đi liền nhau không thể tách rời.
Để có được một tác phẩm thành công, ta không thể không nhắc đến các hình thức nghệ thuật. Tác giả đã xây dựng tình huống truyện và nhân vật độc đáo, cùng với việc kết hợp với thủ pháp đối lập, tương phản giữa ánh sáng và bóng tối, giữa không gian, thời gian cho chữ và người cho chữ, giữa người cho chữ và người xin. Nơi cho chữ là "Buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián", thời gian cho chữ là canh ba khuya khoắt, người cho chữ “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” nhưng lại tự do sáng tạo nghệ thuật, người xin chữ là viên quản ngục lại khúm núm, cúi đầu cảm động trước cái đẹp, cái thiện. Nhà văn đã xây dựng được rất nhiều chi tiết đắt, có thể kể đến hành động dỗ gông của Huấn Cao hay những chi tiết trong cảnh cho chữ, tất cả đều đã làm sáng rõ, nổi bật lên tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Tuân với những triết lý ở đời sâu sắc.
Với ngòi bút sắc sảo, nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo, tình huống truyện đặc sắc cùng với cái tâm của một người suốt đời say mê tìm kiếm cái đẹp, Nguyễn Tuân đã đem lại cho người đọc những ấn tượng khó quên.
Bài tham khảo 3: Thần Trụ Trời
"Thần Trụ trời" kể về thần Thần Trụ trời với sức mạnh phi thường đã phân chia bầu trời và mặt đất, dùng đất đá tạo nên núi, đảo,.. Qua đó, câu chuyện đã giải thích nguồn gốc của sự hình thành các sự vật trong tự nhiên một cách sáng tạo.
Mở đầu câu chuyện, tác giả dân gian mở ra không gian vũ trụ hoang sơ "một vùng hỗn độn, tối tăm, lạnh lẽo" và thời gian chưa được xác định rõ ràng "Chưa có vũ trụ, chưa có muôn vật và loài người". Trong khoảnh khắc tối tăm mù mịt ấy, Thần Trụ trời đã xuất hiện với thân hình khổng lồ "Chân thần dài không thể tả xiết". Mỗi bước chân của thần "có thể qua từ vùng này đến vùng nọ, hay từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác". Nhờ sức mạnh phi thường ấy, thần đã tự mình đào đất, đập đá, tạo nên cái cột đá cao và to để chống trời. Cột càng đắp cao, tấm trời lại càng thêm rộng mở. Chẳng bao lâu sau, thần Trụ trời đã đẩy vòm trời lên phía mây xanh, khoảng cách giữa đất trời được phân chia rõ ràng. Sau khi trụ trời xong, thần lại phá cột đá và dùng đất đá ném ra mọi nơi, tạo thành hòn núi, dải đồi cao,... Mượn các hình ảnh thiên nhiên, tác giả dân gian đã giải thích quá trình tạo lập thế giới một cách sáng tạo. Từ đây, chủ đề của truyện trở nên gần gũi và hấp dẫn với bạn đọc.
Chủ đề và nghệ thuật của tác phẩm văn học luôn song hành và bổ sung cho nhau. Truyện "Thần Trụ trời" cũng vậy, những sáng tạo hình thức nghệ thuật về cốt truyện, nhân vật đã đóng góp vào thành công trong việc làm nổi bật chủ đề truyện. Là truyện thần thoại, cốt truyện "Thần Trụ trời" được xây dựng hết sức đơn giản và gần gũi, xoay quanh việc thần Trụ trời làm công việc phân chia đất, trời và tạo nên những dạng địa hình tự nhiên khác nhau. Dựa vào trí tưởng tượng của con người cùng những yếu tố kì ảo, truyện đã giải thích quá trình tạo lập vũ trụ và thế giới tự nhiên. Qua đó, ta cũng thấy được khát khao tìm hiểu và khám phá của con người trong buổi đầu sơ khai. Đặc sắc nghệ thuật còn được thể hiện trong việc xây dựng nhân vật kết hợp sử dụng thủ pháp cường điệu, phóng đại kết hợp với các chi tiết hư cấu. Hình ảnh Thần Trụ trời có kích thước "khổng lồ" với những bước chân rộng lớn, sở hữu sức mạnh phi thường, đã giúp cho người đọc hình dung rõ ràng, sắc nét về một vị thần trong thần thoại.
"Thần Trụ trời" với những đặc sắc trong chủ đề và hình thức nghệ thuật đã mang đến cho bạn đọc câu chuyện thú vị lí giải về nguồn gốc các sự vật trong tự nhiên. Đồng thời truyện cũng phản ánh mong muốn, khát khao được tìm tòi, khám phá của con người trong buổi đầu sơ khai. Mong rằng tác phẩm sẽ mãi để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc yêu thích văn học dân gian của dân tộc.
Bài tham khảo 4: Người ở bến sông Châu
Chiến tranh qua đi, để lại biết bao mất mát tổn thương. Đó không chỉ là những nỗi đau về vật chất mà còn là nỗi đau về tinh thần. Như vết cứa rất sâu vào trái tim của con người, đặc biệt là những người phụ nữ. Truyện ngắn Người ở bến sông Châu là một truyện ngắn như thế, thấm đượm giá trị nhân văn và tình yêu thương, ca ngợi con người mà đặc biệt là những người phụ nữ.
Câu truyện xoay quanh về nhân vật dì Mây. Cô gái trẻ trung xinh đẹp, tóc dì đen dài, óng mượt "Dì đẹp gái nhất làng, có khối trai làng ra bến sông ngó trộm dì mày tắm”. Trước khi đi xung phong dì có mối tình đẹp đẽ, trong trẻo với chú San. Nhưng phải chia tay nhau vì chú San đi học nghề ở nước ngoài. Còn dì thì xung phong làm cô y sĩ Trường Sơn. Hoàn cảnh trớ trêu đã đẩy chú dì vào cảnh người mỗi ngả chia li cách biệt. Có thể thấy chiến tranh, bom đạn thật tàn nhẫn khi đã đẩy họ vào hoàn cảnh tách biệt.
Khi từ chiến trường bom đạn chờ về. Dì Mây bị đạn phạt vào chân, phải đi tập tễnh, bằng chân giả. Tuy nhiên nỗi đau thể chất đó không thấm vào đâu khi ngày dì trở về cũng là ngày dì phải chứng kiến người đàn ông mình yêu thương, nghĩ tới nhiều nhất, người đàn ông mà dì viết tên hằng ngày vào cuốn nhật kí ở Trường Sơn đã đi lấy người phụ nữ khác. Thử hỏi làm sao dì có thể chịu đựng được cú sốc tinh thần dã man tới vậy, lòng người con gái giờ đây là sự hụt hẫng, bàng hoàng, trớ trêu và đầy tuyệt vọng. Nhưng trong hoàn cảnh tuyệt vọng đó ta vẫn thấy được sự kiên cường, mạnh mẽ của dì Mây. Thái độ của dì rất cương quyết, thể hiện sự bản lĩnh kiên cường của người phụ nữ. Dì nhất quyết không đồng ý trước lời đề nghị “Mây, chúng ta sẽ làm lại” của chú San. Trước sự thể đã rồi dì nhận phần thiệt thòi về mình, dì chỉ muốn một người đàn bà khổ. Có thể thấy dù đau đớn, tuyệt vọng nhưng dì vẫn nén vào trong, dì là đại diện cho phẩm chất kiên cường của những người phụ nữ bước ra từ chiến tranh và bom đạn
Ở dì Mây còn nổi bật lên phẩm chất tốt bụng, vị tha và bao dung. Khi dì Mây nghe tin cô Thanh vợ chú San khó sinh cô Thanh đẻ thiếu tháng lại tràng hoa quấn cổ dì đã ngay lập tức giúp đỡ không hề suy nghĩa, đắn đo điều gì. Mặc dù ở vào hoàn cảnh của dì việc làm đó chẳng hề dễ dàng, nhưng dì vẫn không chút e ngại, chần chừ, suy nghĩ gì mà lập tức tới giúp đỡ cô Thanh vượt qua cơn nguy hiểm, để mẹ tròn con vuông.
Có thể thấy dì Mây hiện lên với rất nhiều những phẩm chất cao thượng, tốt đẹp, dì đại diện cho những người con gái Việt Nam sẵn sàng hi sinh thầm lặng, đánh đổi cả thanh xuân tuổi trẻ và hạnh phúc của cá nhân mình vì những điều lớn lao khác.
Bài tham khảo 5: Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ XVI, quê ở Hải Dương, ông là "danh sĩ thời Lê Sơ". "Truyền kì mạn lục" do ông sáng tác đã đem lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc. Truyện được viết bằng chữ Hán gồm hai mươi truyện, ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVI. Nguyễn Dữ đã ghi chép tản mạn những câu chuyện lạ trong dân gian thời Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ với sự gia công, sáng tạo. Nổi bật trong tập truyện này, ta có thể kể đến "Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên". Tác phẩm thể hiện rõ sự ngợi ca và khát vọng công lí của nhân dân trong đời sống, đồng thời lên án xã hội phong kiến đương thời với những kẻ tham lam, tàn bạo.
Câu chuyện kể về nhân vật Ngô Tử Văn với chiến thắng oanh liệt trước cái xấu, cái ác. Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng, Lạng Giang, chàng nổi tiếng trong vùng với "tính cách cương trực, khảng khái". Ở nơi chàng sinh sống có một ngôi đền rất thiêng. Vậy mà vào cuối đời nhà Hồ, khi "quân Ngô sang lấn cướp", "viên Bách hộ họ Thôi tử trận gần đó đã chiếm lấy ngôi đền và làm yêu làm quái trong dân gian". Ngô Tử Văn rất tức giận vì điều này, vì thế, chàng đã quyết định đốt đền. Sau khi về nhà, chàng lên cơn sốt, trong cơn mê man chàng thấy hồn ma tên bại tướng phương Bắc. Mặc cho tên tướng giặc đe dọa, uy hiếp rằng nếu không trả lại ngôi đền Tử Văn sẽ gặp phải tai vạ, chàng vẫn ung dung, bình thản. Thổ Công hiện lên kể lại toàn bộ sự việc mình bị hại cho Tử Văn và những tội ác tên hung thần gây ra. Vì vậy, trước mặt Diêm Vương, chàng đã dũng cảm tố cáo hồn ma viên Bách hộ. Cuối cùng, Tử Văn được Diêm Vương cho sống lại. Sau này, để đáp lại lời đề bạt của Thổ công, chàng đã nhận chức Phán sự ở đền Tản Viên.
Nguyễn Dữ đã thành công xây dựng nhân vật Ngô Tử Văn với tính cách thẳng thắn, dũng cảm. Không thể làm ngơ trước sự quấy phá của tên hung thần, Tử Văn đã "tắm gội sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt đền". Hành động đốt đền của chàng có chủ đích, cẩn trọng và không phải là hành động bộc phát. Chàng tin rằng hành động của bản thân xuất phát từ những mục đích tốt đẹp, chàng muốn trừ khử tên tướng giặc để người dân có cuộc sống yên bình. Điều này cho thấy Ngô Tử Văn là một người dũng cảm, Tử Văn tin hành động chính nghĩa của mình sẽ được ông trời ủng hộ. Trước lời đe dọa của tên bại tướng phương Bắc, chàng vẫn tỏ ra điềm tĩnh, tự nhiên "Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ "ngồi ngất ngưởng tự nhiên". Chàng đã vạch trần tội ác của tên hung thần và trả lại ngôi đền cho Thổ Công "Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian, có tội lỗi gì xin bảo cho, không nên bắt phải chết một cách oan uổng", "Nếu nhà vua không tin lời tôi, xin tư giấy đến đền Tản Viên để hỏi; không đúng như thế, tôi xin chịu thêm cái tội nói càn". Từ nhân vật Ngô Tử Văn, tác giả muốn đề cao sự nhân nghĩa, dũng cảm của con người. Những đức tính này giúp con người có thể sống vì cộng đồng, vì hạnh phúc nhân dân. Việc Ngô Tử Văn nhận chức Phán sự đền Tản Viên còn thể hiện ước mơ của nhân dân về sự công bằng trong xã hội.
Trái ngược với Tử Văn, viên Bách hộ họ Thôi đại diện cho sự gian xảo. Một tên tướng bại trận lưu vong nơi đất khách mà cướp ngôi đền của Thổ thần để tác oai, tác quái, gây bao phiền nhiễu cho dân lành, hắn còn xảo trá tới mức đút lót, dọa nạt những tên quỷ Dạ Xoa.
Tác phẩm còn lên án, tố cáo chế độ phong kiến đương thời với những tên tham quan, chà đạp lên đời sống của người dân. Điều này được thể hiện rõ nhất qua không gian kì ảo ở thế giới âm ti. Nhân vật kì ảo Diêm Vương được khắc họa là một người chính trực, phán xử đúng tội. Khi biết được lũ quỷ sai thông đồng với hồn ma tên hung thần, người đã "sai lấy lồng sắt chụp vào đầu, khẩu gỗ nhét vào miệng, bỏ người ấy vào ngục Cửu U". Câu nói của Diêm Vương thể hiện sự răn đe những tên tham quan "Lũ các ngươi chia tòa sở, giữ chức sự, cầm lệnh chí công, làm phép chí công, thưởng thì xứng đáng mà không thiên vị, phạt thì đích xác mà không nghiệt ngã, vậy mà còn có sự dối trá càn bậy như thế; huống chi về đời nhà Hán, nhà Đường buôn quan bán ngục, thì những mối tệ còn nói sao hết được!"
Cốt truyện kịch tính, hấp dẫn, sự đan xen giữa các yếu tố thực và ảo dày đặc cũng làm nên sức hút cho tác phẩm. Yếu tố kì áo có thể kể đến như: nhân vật kì ảo (hồn ma tên tướng giặc, quỷ Dạ Xoa, Diêm Vương, Thổ công), chi tiết kì ảo: Tử Văn chết đi sống lại; chàng nhận chức Phán sự đền Tản Viên. Yếu tố thực trong tác phẩm: địa danh có thật (vùng đất Lạng Giang), thời gian lịch sử (cuối đời nhà Hồ). Ngoài ra, lối kể chuyện lôi cuốn và việc sử dụng ngôi kể thứ ba cũng góp phần giúp người đọc hình dung ra một cách khái quát sự kiện được nhắc tới. Lời bình cuối truyện đã góp phần thể hiện quan niệm của tác giả về kẻ sĩ.
Truyện ngầm phản ánh xã hội phong kiến đương thời nhiều bao nhiêu bất công với người dân nghèo khổ. Qua cuộc đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác của Ngô Tử Văn, tác giả đã khẳng định niềm tin về sự chiến thắng của cái thiện. Đồng thời, tác giả cũng thể hiện khát vọng sống công bằng của nhân dân. Truyện đem lại cho chúng ta nhiều bài học ý nghĩa trong cuộc sống về sự dũng cảm, kiên cường, khảng khái khi đấu tranh trước cái xấu, cái ác.
Bài tham khảo 6: Chữ người tử tù
Tài năng của Nguyễn Tuân đã được thể hiện qua cách ông khắc họa con người và cảnh vật chi tiết trong 'Chữ người tử tù'. Ông là một người yêu thơ và trân trọng tài năng, cái đẹp, và chuẩn mực tạo hoá.
Nguyễn Tuân (1910 – 1987) sinh ra trong một gia đình theo Nho giáo, quê nhà ở làng Mọc, nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông là một nhà văn vĩ đại, góp phần quan trọng cho văn học Việt Nam hiện đại. Ông tìm kiếm cái đẹp trong cuộc sống để thổi hồn vào các tác phẩm của mình, tạo ra những làn gió mới, những vẻ đẹp nhân văn cao quý.
Tình huống đặc biệt là yếu tố quan trọng đưa tác phẩm truyện ngắn thành công, đó là chìa khóa thúc đẩy cốt truyện lên cao trào. 'Chữ người tử tù' là một ví dụ điển hình. Nguyễn Tuân đặt nhân vật vào tình huống trớ trêu, gặp gỡ giữa hai thế lực đối lập, tạo ra cuộc gặp gỡ kịch tính, cuốn hút.
Trong 'Chữ người tử tù', Nguyễn Tuân thành công xây dựng nhân vật chính diện, họ là biểu tượng của cái đẹp thanh cao. Hình tượng Huấn Cao, một anh hùng tài ba, đầy tinh thần quả cảm và cao quý, được miêu tả một cách xuất sắc.
Nguyễn Tuân khắc hoạ vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao qua nhiều khía cạnh. Huấn Cao hiện lên như một người nghệ sĩ tài hoa, được ngưỡng mộ và tôn trọng khắp nơi. Ông là biểu tượng của sự bất khuất và cao quý.
Huấn Cao là một anh hùng mạnh mẽ, không sợ hãi trước sức mạnh của cường quyền. Trong tình thế khó khăn, ông vẫn giữ vững tinh thần thanh cao và bất khuất. Hành động của Huấn Cao thể hiện sự kiên định và dũng cảm trước sự bạo lực của xã hội.
Nguyễn Tuân mô tả Huấn Cao như một anh hùng kiên cường, không vụ lợi, không mưu danh, chỉ viết cho bạn bè tri kỷ và trao cái đẹp cho đúng người. Ông biểu lộ sự cảm kích trước sự chân thành của viên quản ngục. Tấm lòng nhân hậu của ông không muốn lợi dụng bất kỳ ai.
Ngoài Huấn Cao, Nguyễn Tuân còn tạo ra nhân vật viên quản ngục, một người yêu cái đẹp nhưng bị lạc vào chốn bẩn thỉ. Viên quản ngục hiện thân cho sự thuần khiết giữa xã hội hỗn loạn. Tác phẩm là một minh chứng cho sự tồn tại vĩnh cửu của cái đẹp.
Trong một đêm tăm tối ở trại giam tỉnh Sơn, một cảnh tượng chưa từng thấy xuất hiện. Tình huống này thể hiện phong cách nghệ thuật tài tình của Nguyễn Tuân, làm nổi bật cái đẹp giữa bóng tối và bẩn thỉu.
'Chữ người tử tù' của Nguyễn Tuân là một tác phẩm hoàn mỹ, thể hiện lòng yêu nước và tôn trọng cái đẹp. Tác phẩm này đánh giá cao giá trị văn học và tư tưởng của tác giả.
Bài tham khảo 7: Chữ người tử tù
Nguyễn Tuân là một tài năng văn chương vượt trội, là bậc thầy của truyện ngắn. Sáng tác của ông được chia thành hai giai đoạn trước và sau cách mạng tháng Tám. Trong giai đoạn trước, ông được biết đến là một nhà văn 'duy mĩ', đam mê với cái đẹp và coi đó là điểm cao nhất của nhân cách con người. 'Vang bóng một thời' là một tập truyện tiêu biểu cho thời kỳ sáng tác này của Nguyễn Tuân, không tin vào hiện tại và tương lai mà theo đuổi vẻ đẹp của quá khứ với những phong tục, thú vui tao nhã lành mạnh trong đó có trò chơi chữ của Huấn Cao và viên quản ngục trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”. Hai nhân vật có nhân cách cao đẹp, thiên lương và sự lạ lùng của chữ được thể hiện rõ trong tác phẩm, tôn vinh tài năng văn chương và tư tưởng của Nguyễn Tuân.
Trong câu chuyện, Huấn Cao là một người có tài viết chữ đẹp nhưng bị kết án tử hình vì chống lại triều đình. Trước khi bị xử án, ông được đưa đến một trại giam có viên quản ngục và thầy thơ tôn trọng tài năng của Huấn Cao, tôn trọng người tài nên đã đối đãi tù nhân một cách lịch sự, mong muốn Huấn Cao sẽ sáng tạo bằng chữ. Hiểu được lòng nhân ái đó, Huấn Cao đã viết ra những bức thư trong tình cảnh khó khăn chưa từng có. Tình huống của câu chuyện là cuộc gặp gỡ giữa hai con người khác biệt, một bên là Huấn Cao có tài viết chữ nhưng lại đối đầu với triều đình, một bên là viên quan coi ngục đại diện cho người gìn giữ trật tự xã hội phong kiến đương thời nhưng lại khát khao ánh sáng của tri thức. Hai nhân vật đối lập trên mặt xã hội nhưng lại thấu hiểu, tôn trọng lẫn nhau trên mặt nghệ thuật. Nhân vật được Nguyễn Tuân đặt vào trong tình huống đối đầu tạo ra kịch tính cho câu chuyện và chữ viết là nút thắt được mở ra.
Huấn Cao là một nhân vật tài năng và gan dạ, kiêu hãnh, và có phẩm chất cao quý được thể hiện rõ trong tác phẩm. Đặc biệt là ở phần đầu tiên thông qua cuộc trò chuyện giữa viên quản ngục và thầy thơ. Tài năng viết chữ đẹp của ông khiến viên quản ngục mê mải muốn có chữ của Huấn treo ở nhà riêng vì 'chữ của ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm'. Nguyễn Tuân đã miêu tả mong ước của viên quản ngục để làm nổi bật tài năng nghệ sĩ mà nhiều người khao khát. Huấn Cao không chỉ là anh hùng dẻo dai đứng đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình vì không hài lòng với chính sách của triều chính, mà còn là người không sợ sự đe dọa từ quyền lực, hiên ngang đối diện với tất cả. Ông là một nhân vật hiếm có, kết hợp giữa tài năng nghệ sĩ và phẩm chất anh hùng, tạo ra một cái nhìn độc đáo và khác biệt so với các nhân vật trong 'Vang bóng một thời'. Huấn Cao cũng có một phẩm chất cao quý không phải ai cũng có, là việc cho đi chữ, trong cuộc đời ông chỉ cho ba lần là ba người bạn đắc ý. Nhưng khi nhận ra tấm lòng của viên quản ngục, ông tỏ ra lịch sự và chu đáo để đáp lại sự chân thành đó. Giọng điệu của Huấn Cao trở nên nhẹ nhàng, ôn hòa hơn: 'Về bảo với chủ nhà, tối nay, khi lính canh về trại nghỉ, thì đem mực, bút và cả bó đuốc xuống đây để viết chữ'. Cho chữ, không phải viết chữ, nghe như lời ban xuống từ bề trên cho dưới. Ông khẳng định: 'Chữ là quý thực. Tôi không bao giờ ép mình viết câu đối vì vàng bạc hay quyền lực'. Huấn Cao không quan tâm đến vinh quang và sự giàu có, cũng không sợ sức mạnh để ép buộc mình làm điều mình không muốn. Mặc dù bị giam cầm trong ngục tù, tâm hồn ông không bao giờ bị giam giữ, ông luôn tự do trong tinh thần.
Huấn Cao quyết định cho chữ trong một tình huống không giống ai như Nguyễn Tuân đã nhận xét. Cảnh cho chữ là một nghệ thuật đặc biệt được nhà văn miêu tả rất ấn tượng. Thời gian đó là đêm cuối cùng trước khi ông ra pháp trường. Quang cảnh cho chữ đầy lạ lùng và đẹp như một cảnh trong mơ. Lạ lùng vì người ta thường cho chữ trong một căn phòng sạch sẽ, ánh sáng tỏa ra từ những ngọn đèn, có mùi hương của hương trầm, nhưng ở đây tại nhà lao, không có gì ngoài 'Buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián', chỉ có ánh đuốc đỏ sáng đậm, khói bốc lên như trong một vụ hỏa hoạn. Phòng giam có ba người, nhưng chỉ có một người viết. Thầy thơ run run cầm chậu mực. Viên quản ngục nâng một tấm vải trắng căng trên mảnh ván. Huấn Cao, với cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang tô mực trên tấm vải, từng nét chữ được viết ra, 'người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại đặt một đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ lên tấm vải'. Ta thấy sự đối lập giữa một người tù bị giam giữ và hai người tự do đại diện cho quyền lực. Huấn Cao thì tự do, tự tại và đối lập, trong khi đó viên quản ngục và thầy thơ lại run run và lúng túng. Sự lúng túng của viên quản ngục không phải là sự thất bại mà là một sự kính trọng. Ông kính trọng sự đẹp đẽ đó như một điều tất yếu trong cuộc sống. Cả ba người đều đồng lòng, cùng chung một lòng yêu cái đẹp, cái đẹp của chữ viết liền với cái đẹp của tâm hồn và phẩm chất cao quý.
Trong 'Chữ người tử tù', Nguyễn Tuân thể hiện ba thái độ của con người đối với cái đẹp. Thứ nhất là thái độ phủ nhận, được thể hiện qua những tên lính vô lễ với Huấn Cao và bạn tù của ông. Chúng là những con người tàn bạo, thô lỗ, không biết quý trọng tài năng. Thứ hai là thái độ yêu mến cái đẹp và trân trọng người tài, được thể hiện qua tấm lòng của viên quản ngục và thầy thơ, họ luôn muốn biết về những người tài và sẵn sàng vượt qua nguy hiểm để có được chữ của Huấn Cao. Thái độ thứ ba là sự cao quý và rộng lượng của Huấn Cao, một nhân vật đặc biệt và đầy nhân phẩm.
Tác phẩm của Nguyễn Tuân thể hiện được tư tưởng về nghệ thuật và nhân phẩm con người. Nhân cách đẹp luôn kết hợp với cái tài và cái tâm, và cái đẹp luôn đi đôi với cái thiện. Chỉ có cái đẹp mới có thể làm cho con người trở nên tốt hơn, cao quý hơn.
Nguyễn Tuân đã thể hiện tài nghệ thuật tinh tế trong việc khắc họa con người và cảnh vật chi tiết trong tác phẩm của mình. Ông là một người yêu mến và trân trọng tài năng và cái đẹp, điều này được thể hiện rõ trong 'Chữ người tử tù'.
Nhà thơ nổi tiếng Ralph Emerson từng nói rằng: 'Yêu cái đẹp là thường thức. Tạo ra cái đẹp là nghệ thuật. Nhưng biết trân trọng cái đẹp mới là người nghệ sĩ chân chính.' Tác phẩm 'Chữ người tử tù' của Nguyễn Tuân thể hiện sự tìm kiếm và trân trọng cái đẹp của một người nghệ sĩ chân chính.
Nguyễn Tuân đã thành công trong việc thể hiện tư tưởng về nghệ thuật và nhân phẩm con người trong 'Chữ người tử tù'. Tác phẩm này luôn toả sáng và trường tồn với thời gian, khắc họa vẻ toàn mỹ của cái đẹp trong mọi hoàn cảnh.
Tài liệu cùng môn học
- Trắc nghiệm văn 10 kết nối tri thức
- Giáo án word văn 10 kết nối tri thức
- Giáo án ppt văn 10 kết nối tri thức
- Giáo án word dạy thêm văn 10 kết nối tri thức
- Giáo án ppt dạy thêm văn 10 kết nối tri thức
- Giáo án chuyên đề văn 10 kết nối tri thức
- Giáo án ppt chuyên đề văn 10 kết nối tri thức
- Soạn văn 10 kết nối tri thức
- Phiếu bài tập văn 10 kết nối tri thức
- Lý thuyết văn 10 kết nối tri thức
- Soạn ngắn văn 10 kết nối tri thức
- Câu hỏi xoay quanh Ngữ văn 10 kết nối tri thức
- Văn mẫu 10 kết nối tri thức
- Đề thi ngữ văn 10 kết nối tri thức
- Giải chuyên đề văn 10 kết nối tri thức
- Ppt trò chơi AI Ngữ văn 10 Kết nối tri thức
- Tóm tắt tác phẩm văn 10 kết nối tri thức
- Video AI mở đầu Ngữ văn 10 kết nối tri thức
Tài liệu khác
- Trắc nghiệm toán 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm văn 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm địa lí 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm lịch sử 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm KTPL 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm hóa học 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm sinh học 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm quốc phòng 10 kết nối tri thức
- => Xem nhiều môn hơn