Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) về một trong hai vấn đề sau:
Nội dung chi tiết
Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) về một trong hai vấn đề sau:
- Mối quan hệ giữa tư tưởng nhân văn và luận đề chính nghĩa thể hiện ở đoạn 1 của văn bản
- Tinh thần độc lập, ý thức chủ quyền dân tộc được thể hiện trong Bình Ngô đại cáo.
Bài tham khảo 1:
Tinh thần độc lập và ý thức chủ quyền được thể hiện xuyên suốt trong tác phẩm “Bình Ngô đại cáo”. Chủ quyền dân tộc đến đây đã được ý thức rõ ràng “núi sông bờ cõi đã chia”, tinh thần độc lập đã được thể hiện thông qua nền văn hiến lâu đời song song với phương Bắc. Tinh thần độc lập ấy đã được thể hiện qua hành động cụ thể, đó chính là nhân dân Đại Việt lên án gay gắt tội ác của quân xâm lược, lịch sử bao đời nay vẫn một lòng bảo vệ chủ quyền đất nước. Đó là truyền thống tiếp nối và được giữ vững tới tận thời điểm bấy giờ khi nghĩa quân Lam Sơn dựng cờ khởi nghĩa, đánh đuổi giặc Minh.
Bài tham khảo 2:
Tinh thần độc lập và ý thức bảo vệ chủ quyền trong “Bình Ngô đại cáo” được thể hiện rõ nét qua nhiều khía cạnh. Đầu tiên, tác giả khẳng định truyền thống độc lập, tự chủ lâu đời của dân tộc với bề dày lịch sử và văn hiến, nêu bật những triều đại, vị vua anh hùng đã dựng nước và giữ nước, thể hiện ý thức về bản sắc dân tộc riêng biệt và khẳng định chủ quyền lãnh thổ. Tác giả đã tố cáo tội ác xâm lược của giặc Minh và ca ngợi chiến thắng oanh liệt của nghĩa quân Lam Sơn, khẳng định tính chính nghĩa của cuộc chiến và ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập: "Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới". Có thể nói, bài cáo là bản Tuyên ngôn độc lập và ý thức bảo vệ chủ quyền dân tộc
Bài tham khảo 3:
Ngay từ đoạn mở đầu tác phẩm, ta đã thấy rõ tư tưởng nhân văn và luận đề chính nghĩa mà Nguyễn Trãi đã đưa ra có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Tác giả đã đưa ra luận đề chính nghĩa dựa trên tư tưởng nhân văn, trong đó lấy tư tưởng nhân nghĩa làm cốt lõi. “Việc nhân nghĩa” thì “cốt ở yên dân”, nghĩa là nhân dân được sống bình yên, “trước lo trừ bạo” là gắn với việc chống quân xâm lược. Nguyễn Trãi đã khẳng định nội dung mới trong tư tưởng nhân nghĩa là diệt trừ giặc ngoại xâm. Cuộc chiến này không phải là chiến tranh phi nghĩa mà là đấu tranh để mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân, đó cũng chính là nhân đạo. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra những yếu tố căn bản bao gồm văn hiến, lịch sử địa lý. Những chân lý khách quan này khẳng định về sự tồn tại độc lập của dân tộc là phù hợp với chính nghĩa và nhân đạo bằng cách lập luận vô cùng thuyết phục.
Bài tham khảo 4:
Đoạn đầu tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” cho thấy tư tưởng nhân văn là nền tảng để xây dựng luận đề chính nghĩa. Nhân nghĩa là gốc của yên dân, Nguyễn Trãi khẳng định, đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Và để yên dân thì chống lại bạo ngược, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân chính là mục đích của cuộc chiến là "Quân điếu phạt trước lo trừ bạo". Nguyễn Trãi khẳng định đây là cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, bảo vệ chủ quyền của dân tộc, được nhân dân ủng hộ. Mục đích của chiến tranh là nhân nghĩa, đánh đuổi giặc Minh xâm lược, khôi phục hòa bình, mang lại cuộc sống ấm no cho nhân dân. Ngoài ra Nguyễn Trãi còn đưa ra các luận đề chính nghĩa bằng những căn cứ xác đáng như “vốn xưng nền văn hiến đã lâu”, “núi sông bờ cõi đã chia, phong túc Bắc Nam cũng khác”, liệt kê các triều đại song song cùng tồn tại và phát triền. Đây đều là những căn cứ có thật và xác đáng, không phóng đại, không phủ nhận lịch sử, điều này thể hiện tinh thần nhân văn của Nguyễn Trãi.
Bài tham khảo 5:
Tinh thần độc lập dân tộc ý thức chủ quyền dân tộc được Nguyễn Trãi thể hiện rõ nét trong tác phẩm Bình Ngô đại cáo qua những câu văn hùng hồn về chân lý độc lập dân tộc. Sự tồn tại độc lập có chủ quyền của nước Đại Việt ta từ bao đời nay được tác giả Nguyễn Trãi khẳng định như một chân lý khách quan thông qua 5 yếu tố cơ bản: nền văn hiến, ranh giới lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử các triều đại và công cuộc chống giặc ngoại xâm. Bằng những chứng cứ hùng hồn thuyết phục Nguyễn Trãi đã khẳng định Đại Việt là quốc gia độc lập đó là chân lý không thể chối cãi cùng với các từ ngữ:"từ trước, đã lâu, vốn xưng, đã chia" đã khẳng định sự tồn tại hiển nhiên của Đại Việt. Ngoài ra tác giả còn có thái độ so sánh triều đại của Đại Việt ngang hàng với triều đại phương Bắc nhằm thể hiện ý thức được chủ quyền dân tộc cao độ của tác giả. Những kết cục của kẻ chống lại chân lý: Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã,... chính là lời cảnh cáo đanh thép của tác giả, đồng thời cũng thể hiện niềm tự hào về những chiến công lịch sử của nhân dân ta.
Bài tham khảo 6:
Ý thức về độc lập, chủ quyền dân tộc được Nguyễn Trãi thể hiện rất rõ trong văn bản “Bình Ngô đại cáo”. Trước hết, Nguyễn Trãi xác định tư cách độc lập của dân tộc bằng một loạt những dẫn chứng tiêu biểu, thuyết phục: nước ta có nền văn hiến lâu đời, có cương vực lãnh thổ riêng, có phong tục tập quán đậm đà bản sắc dân tộc, có chiều dài lịch sử với các triều đại sánh ngang với các triều đại của phương Bắc, có anh hùng hào kiệt ở khắp nơi trên đất nước. Đồng thời, Nguyễn Trãi còn phân định rất rõ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là một cuộc khởi nghĩa chính nghĩa, tất sẽ thắng lợi, vì đã đứng lên để giành lại chủ quyền của dân tộc, còn kẻ thù chắc chắn sẽ thất bại vì đã xâm phạm lên chủ quyền của đất nước khác.
Bài tham khảo 7:
Tinh yêu nước luôn là một truyền thống quý báu của dân tộc ta, tinh thần này cũng mang theo vào văn học. Tư tưởng trung quân ái quốc, với quan niệm đất nước là của vua, yêu nước là trung với vua, trung với vua là yêu nước. Tinh thần yêu nước đó đã không chỉ tồn tại ở dạng quan niệm, tư tưởng đơn thuần, mà quan trọng hơn là tồn tại ở dạng cảm xúc, cảm hứng, với đủ màu vẻ và cung bậc. Trong bài thơ " Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi thể hiện niềm tự hào về đất nước, về dân tộc: khẳng định dân tộc ta có nền văn hiến lâu đời, có lịch sử riêng, có cương vực lãnh thổ, có phong tục tập quán, có triều đại riêng với tên nước Đại Việt, có độc lập chủ quyền.
Bài tham khảo 8:
Mở đầu tác phẩm Nguyễn Trãi nêu lên một luận điểm về nguyên lí nhân nghĩa: “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Tư tưởng về nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trước hết chính là “yên dân”. Dùng nhân dân với cái nhân nghĩa để đi đánh giặc ngoại xâm đem lại bình yên ấm no hạnh phúc cho nhân dân. Dùng quân nhân nghĩa để đánh quân xâm lược trước hết là để an dân để yên dân, Nhân nghĩa là tinh thần vì dân yên dân là chính nghĩa của nhân dân mang bản sắc dân tộc. Nhân nghĩa ở đây chính là để cứu dân để trừ bạo. Như vậy có nghĩa là “Việc nhân nghĩa”, hành động nhân nghĩa không phải một cái gì trừu tượng, chung chung, mà nó biểu hiện bằng “việc” cụ thể, là chống quân xâm lược để giữ yên bờ cõi, tiêu diệt các cuộc phản nghịch chông triều đình để xây dựng xã hội “vua sáng, tôi hiền”. Việc ấy phải được giao phó cho quân đội. Nguyễn Trãi đã coi việc an dân yên dân là mục tiêu của nhân nghĩa còn “trừ bạo là đối tượng phương tiện của nhân nghĩa.
Bài tham khảo 9:
Đến với đoạn một "Bình Ngô đại cáo", ta có thể thấy được tư tưởng nhân nghĩa - tư tưởng phù hợp với thời đại của Nguyễn Trãi. Ở ngay phần đầu bài cáo, Nguyễn Trãi đã nhấn mạnh "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.". Theo tác giả, yêu thương, quý trọng nhân dân chính là nhân nghĩa. Vì thế, điều cốt yếu, quan trọng là phải làm cho cuộc sống người dân luôn yên bình, tốt đẹp. Để thực hiện được điều đó thì vua quân phải biết "trước lo trừ bạo". Nhằm khẳng định vấn đề này, Nguyễn Trãi đã mạnh mẽ tuyên bố về nền độc lập dân tộc, phong tục tập quán của cha ông bao đời nay. Đứng trước vô vàn cuộc chiến, các triều đại vẫn giữ vững bờ cõi nước nhà. Như vậy, tư tưởng nhân nghĩa có mối quan hệ chặt chẽ với luận đề chính nghĩa trong đoạn một của bài cáo.
Bài tham khảo 10:
Bình Ngô đại cáo là một áng hùng văn thể hiện ý chí, tinh thần độc lập và ý thức về chủ quyền dân tộc. Trong văn bản, Nguyễn Trãi đã khẳng định chắc nịch Đại Việt là một nước độc lập, một dân tộc độc lập, là một nước có văn hiến, có đường biên giới rõ ràng với phương bắc. Không những thế, Đại Việt và các triều đại phong kiến phương bắc mỗi bên xưng đế một phương. Tuy nhiên, nhà Minh đã đi trái với ý trời, lòng người, nhân lúc nhà Hồ đang rối ren mà thừa cơ gây họa để cướp nước ta. Với ý chí quật cường, Lê Lợi đã cùng nghĩa quân khởi nghĩa, dù phải chịu trăm ngàn gian khó, phải nằm gai nếm mật, ngủ rừng, chịu đói chịu lạnh cũng không cam chịu làm nô lệ, không khuất phục trước sức mạnh quân thù. Với ý chí đó, sức mạnh đó, nghĩa quân đã dành được thắng lợi toàn diện, quét sạch kẻ thù ra khỏi bờ cõi đât nước.
Tài liệu cùng môn học
- Trắc nghiệm văn 10 kết nối tri thức
- Giáo án word văn 10 kết nối tri thức
- Giáo án ppt văn 10 kết nối tri thức
- Giáo án word dạy thêm văn 10 kết nối tri thức
- Giáo án ppt dạy thêm văn 10 kết nối tri thức
- Giáo án chuyên đề văn 10 kết nối tri thức
- Giáo án ppt chuyên đề văn 10 kết nối tri thức
- Soạn văn 10 kết nối tri thức
- Phiếu bài tập văn 10 kết nối tri thức
- Lý thuyết văn 10 kết nối tri thức
- Soạn ngắn văn 10 kết nối tri thức
- Câu hỏi xoay quanh Ngữ văn 10 kết nối tri thức
- Văn mẫu 10 kết nối tri thức
- Đề thi ngữ văn 10 kết nối tri thức
- Giải chuyên đề văn 10 kết nối tri thức
- Ppt trò chơi AI Ngữ văn 10 Kết nối tri thức
- Tóm tắt tác phẩm văn 10 kết nối tri thức
- Video AI mở đầu Ngữ văn 10 kết nối tri thức
Tài liệu khác
- Trắc nghiệm toán 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm văn 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm địa lí 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm lịch sử 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm KTPL 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm hóa học 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm sinh học 10 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm quốc phòng 10 kết nối tri thức
- => Xem nhiều môn hơn