Lựa chọn một tác phẩm truyện mà bạn yêu thích, gợi cho bạn nhiều hứng thú và suy ngẫm (có thể là tác phẩm chưa học).

Tổng hợp những bài văn, đoạn văn hay nhất trong chương trình học của Ngữ văn 10 kết nối tri thức. Phần tổng hợp dưới đây là ngữ liệu tham khảo giúp học sinh biết cách tìm ý, diễn đạt câu văn, chắt lọc từ ngữ và hình thành ý tưởng trong quá trình làm bài. Mời các em cùng tham khảo: Lựa chọn một tác phẩm truyện mà bạn yêu thích, gợi cho bạn nhiều hứng thú và suy ngẫm (có thể là tác phẩm chưa học).

Nội dung chi tiết

Đề bài: Lựa chọn một tác phẩm truyện mà bạn yêu thích, gợi cho bạn nhiều hứng thú và suy ngẫm (có thể là tác phẩm chưa học).

Bài tham khảo 1:

Hai đứa trẻ là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách viết độc đáo của Thạch Lam, tác phẩm đã truyền tải đến người đọc rất nhiều cảm xúc trân quý và gợi lên trong tâm tưởng độc giả niềm say mê sâu sắc.

Nhà văn từ những chi tiết bé nhỏ của tác phẩm đã thể hiện rõ khát vọng và nỗ lực hướng đến ánh sáng của những kiếp người cùng khổ trong bóng tối, ông trân trọng và nâng niu những mơ ước ấy bằng những hình ảnh và ngôn từ bình dị nhất. Mạch kể của truyện ngắn chậm rãi và nhẹ nhàng đưa độc giả đến với mọi ngóc ngách của phố huyện, câu chuyện mở đầu bằng tiếng trống thu vang động giữa không trung như một hồi chuông báo hiệu ngày dài đã tàn, mở ra cuộc sống về đêm ảm đạm. Ánh sáng dần tắt, bóng tối bao trùm, truyện ngắn mở ra cả những góc khuất bóng tối của đời người.

Trước hết là thân phận hai mẹ con chị Tí. Họ xuất hiện vào lúc “trời nhá nhem tối”. Cái nơi mà họ xuất hiện là không rõ ràng “ở trong ngõ đi ra”. Cả hai đều mang không biết bao nhiêu là đồ đạc. Mẹ con chị Tí đi ra từ bóng đêm để đến cái mốc gạch thắp ngọn đèn dầu le lói giữa đất trời phố huyện mênh mang. Chẳng sáng được là bao, nó còn gợi lên cái leo lét tối tăm của một người mẹ cùng với đứa con nhỏ đi tìm kế sinh nhai khi trời chạng vạng cả một ngày mò cua bắt ốc và đêm đến vẫn tiếp tục cuộc mưu sinh. Mẹ con chị Tí là hình ảnh của con cò trong ca dao Việt Nam…

Kiếp đời tàn thứ hai xuất hiện trên ‘cây đèn kéo quân’ phố huyện là bà cụ Thi hơi điên điên. Bà cụ uống rượu cười khành khạch làm Liên hơi sợ. Nhiều khi người ta cười khi chẳng còn khóc được nữa, bà cụ nuốt từng ngụm rượu như muốn nuốt trôi đi từng ngụm đắng cay của cuộc đời. Ta chẳng thấy một bà già điên, ta thấy ái ngại cho một người già có lẽ thiếu thốn tình thương trong cuộc đời quá đỗi vất vả này.

Nhân vật thứ ba góp vào những cuộc đời tàn phố huyện là bác phở Siêu. Sau hai người đàn bà côi cút ta lại gặp một người đàn ông lẻ loi. Bác phở Siêu xuất hiện vào lúc trời đã đi vào đêm, đường phố huyện và các ngõ con chứa đầy bóng tối. Người đàn ông ấy lúi cúi nhóm lửa, bóng của bác “mênh mang ngả xuống một dải đất và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngõ” đã gợi cho ta con đường bế tắc của thân phận chị Tí khi ra khỏi ngõ để rồi bác Siêu lại chui đầu vào ngõ. Phố huyện lơ thơ những con người nghèo đói. Phở của bác Siêu không phải là món ăn dành cho họ. Bác Siêu hy vọng có những người khách sang từ Hà Nội về, nhưng đoàn tàu rầm rộ đi ngang ga xép, không dừng lại. Chỉ cần vài đêm chuyến tàu không dừng lại ở ga xép, phở sẽ thiu thối thành đồ bỏ. Bác Siêu sẽ hoàn toàn tay trắng.

Số phận của chị em Liên gây ấn tượng nhất về sự quẩn quanh bế tắc của người dân phố huyện. Hai đứa vốn là con của gia đình công chức ở Hà Nội. Nhưng rồi cha thất nghiệp dắt vợ con về quê nội. Mẹ của chúng đầu tắt mặt tối suốt ngày để làm hàng xáo. Chị em Liên phải trông coi lẫn nhau, đồng thời phải bán một cửa hàng tạp hóa bé xíu để góp chút tiền còm vào kế sinh nhai. Hai đứa trẻ có tâm hồn rất trong sáng của tuổi thơ. Vậy mà đêm đêm hai đứa trẻ không còn bản năng đợi chờ cha mẹ. Chúng chỉ biết ngắm sao trời, theo dõi tỉ mỉ đường bay của những con đom đóm. Và thật tội nghiệp khi hạnh phúc lớn nhất của chúng chỉ là chờ đợi chuyến tàu đêm.

Và ánh sáng đã đến được nơi tận cùng của bóng tối. Chân thực và mờ ảo, ánh sáng xuất hiện trong từng thước phim quay chậm của truyện ngắn, từ ánh chiều tà nơi bầu trời phía Tây đến ngọn đèn của gánh hàng chị Tí và cả ánh sáng vụt đi trong đêm của chuyến tàu muộn. Giữa vô vàn màu sắc lung linh hiện trên trang văn thì tâm hồn Liên và An lại là ánh sáng rực rỡ nhất, ấy là vẻ đẹp của những tấm lòng trẻ thơ đầy ắp tình thương và niềm tin vào cuộc sống được Thạch Lam gợi lên từ những chi tiết nhỏ nhất. Ngoài tâm hồn trong trẻo của hai đứa trẻ, ánh sáng nổi bật thứ hai trong tác phẩm là tấm lòng tinh tế của nhà văn, Thạch Lam bằng tâm hồn sâu sắc và trái tim ấm nóng tình thương đã nhìn thấy được ước mơ từ tận sâu bên trong của trẻ thơ.

Thạch Lam cùng với truyện ngắn Hai đứa trẻ đã góp phần thêu dệt nên sự rực rỡ của dải lụa văn học nước nhà và tạo ra nhiều con sóng ngầm trong cảm xúc của độc giả khiến bao thế hệ về sau vẫn mãi luôn khắc ghi phong cách viết của nhà văn.

Bài tham khảo 2:

Nam Cao là nhà văn hiện thực mà những trang viết phản ánh sâu sắc bộ mặt của xã hội thời kỳ 1939-1945 trong những năm dài nô lệ như dồn tụ lại những thảm họa đen tối nhất, trong khoảng thời gian cùng đường của người dân Việt Nam. Một trong những tác phẩm được ra đời trong hoàn cảnh đó là “Chí Phèo” - tác phẩm mang giá trị sâu sắc cả về nội dung và nghệ thuật.

Chí Phèo không phải là một hiện tượng đơn độc cá biệt mà mang ý nghĩa tiêu biểu cho một lớp người, một tình trạng xã hội. dốc trượt của cuộc đời xuống đáy xã hội và bị rơi vào vũng bùn tội lỗi mà Chí Phèo là người trôi xa nhất. Nỗi khổ của Chí Phèo đau nhất là nỗi khỗ bị tước quyền làm người. Chí Phèo sinh ra không cha, không mẹ, không họ hàng thân thích, không nhà cửa, không tấc đất cắm dùi. Cả đời Chí không hề biết đến một bàn tay chăm sóc của đàn bà nếu không gặp Thị Nở. Chí ra đời trong một cái “lò gạch cũ” bỏ hoang, “bơ vơ hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ” đến hai mươi tuổi thì làm canh điền cho nhà giàu…Đó là cuộc đời khốn khổ của một kẻ “cùng hơn cả dân cùng” ở nông thôn thời bấy giờ. Và nỗi khổ ghê gớm của Chí Phèo được ngòi bút của Nam Cao tập trung thể hiện ở vấn đề bị cự tuyệt quyền làm người. Người nông dân “cùng hơn cả dân cùng ấy không được sống ngay cả cuộc đời nghèo khổ nhưng lương thiện của mình mà anh đã bị xã hội cướp đi bộ mặt cùng linh hồn để trở thành một con thú dữ và bị xã hội loài người chối bỏ.

Là con người lẽ ra được lao động, được mơ ước, được quyền yêu thương, được sống giữa cộng đồng của anh trong làng Vũ Đại. Nỗi đau này mang tính điển hình, tính phổ biến. Rền vang tiếng nức nở của con người không được quyền làm người. Nam Cao đã thể hiện nỗi đau đó bằng nghệ thuật.

Thực ra đâu phải Chí Phèo vốn là kẻ lưu manh nát rượu. Khi còn trai trẻ anh canh điền nhà Bá Kiến ấy đã từng mơ ước cuộc sống hạnh phúc bình dị bằng lao động. Nhưng bản chất lương thiện, trong trắng ấy của anh đã bị xã hội ra sức hủy diệt. Nhà tù thực dân ấy đã tiếp tay cho lão cường hào bắt giam anh Chí lương thiện vô tội để sau đó thả ra một Chí Phèo hung ác lưu manh. Chính xã hội ấy đã vằm nát bộ mặt người, cướp đi linh hồn người của anh. Trở về làng lần này, Chí Phèo trở nên xa lạ với mọi người, là “con quỷ của làng Vũ Đại”. Và thế là hắn không còn được mọi người coi là người nữa.

Chí Phèo tiêu biểu cho tầng lớp nông dân bị tha hóa về mặt nhân cách. Nhưng sự tha hóa đó không phải là bẩm sinh mà là nó được phát sinh trong quá trình vận động và phát triển của nhân vật giữa xã hội thối nát, vô nhân đạo. Để rồi đến cuối cùng khi lương tri đã thức tỉnh thì hắn cay đắng nhận ra mình không thể làm một con người bình thường được nữa, tự kết liễu cuộc đời mình như thể chấm dứt một bi kịch. Nhưng rồi mọi sự đã kết thúc thật hay chưa, chẳng ai chắc chắn được, khi mà thị Nở nhìn xuống cái bụng mình, nghĩ đến cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại qua. Sao đến lúc này, thị lại tỉnh táo đến thế? Quay về thời điểm khi Chí sinh ra, cũng là một cái lò gạch cũ, một vòng luẩn quẩn ra đời và cứ thế tiếp tục, và đây cũng là một lời tố cáo đầy cay đắng cái xã hội bạo tàn.

Quả thực như Nguyễn Ngọc Tư đã từng viết: ““Thật là lạ, ngay cả khi nghe người nào đó kể chuyện đời họ, mình cũng không có cảm giác chắc chắn là đã biết. Không chắc chắn được cái củ hành đó đã được bóc đến lớp tận cùng chưa.”

Tác giả xây dựng rất thành công chân dung của một người nông dân mới: Chí Phèo. Hình ảnh Chí trở thành một điển hình văn học. Một kiểu mẫu của loại người bị tha hóa về mặt nhân cách, vừa sống động vừa độc đáo mới mẻ. Cũng qua đó bật lên tiếng lòng nhân đạo cao cả. Một sự cảm thông, một thái độ trân trọng sâu sắc đối với số phận của người nông dân cùng bị xã hội chà đạp, ruồng rẫy, chối bỏ thậm chí tước bỏ cả quyền làm người. Khả năng miêu tả tâm lí sâu sắc nhất của Nam Cao trong tác phẩm này là đã khám phá được và diễn tả được tâm lí của nhân vật. Nhà văn hiểu tâm lý nhân vật một cách sâu sắc, dựng lên nhân vật rất thực, rất đời. Nam Cao đã sử dụng nghệ thuật điển hình hóa để xây dựng Chí Phèo đại diện cho nông dân Việt Nam bấy giờ đầy bất hạnh, bi kịch, bị xã hội đưa đẩy đến cùng đường.

Tác phẩm của Nam Cao ghi lại những chuyện đời thường nhưng gắn với cả cuộc đời rộng lớn. Cái tiếng thì thầm của tác phẩm lại có sức ám ảnh đến đối với nhiều lớp người trong hành trình cuộc đời, trong suốt dặm dài lịch sử dân tộc mà vẫn còn vẹn nguyên giá trị.