Sưu tầm một bài thơ chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Trãi và viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) giới thiệu bài thơ đó

Tổng hợp những bài văn, đoạn văn hay nhất trong chương trình học của Ngữ văn 10 kết nối tri thức. Phần tổng hợp dưới đây là ngữ liệu tham khảo giúp học sinh biết cách tìm ý, diễn đạt câu văn, chắt lọc từ ngữ và hình thành ý tưởng trong quá trình làm bài. Mời các em cùng tham khảo: Sưu tầm một bài thơ chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Trãi và viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) giới thiệu bài thơ đó.

Nội dung chi tiết

Đề bài: Sưu tầm một bài thơ chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Trãi và viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) giới thiệu bài thơ đó

Bài tham khảo 1: Tự thán bài 6

Ở thế thường hiềm khác tục ngươi,

Đến đây rằng hết tiếng chê cười.

Kể ngày con nước toan triều lạc,

Bạn chúng chẳng chài chác cá tươi.

Rượu đối cầm đâm thơ một thủ,

Ta cùng bóng liễn nguyệt ba người.

Tai thường phỏng dạng câu ai đọc,

Rất thân sinh bẩy tám mươi.

Nguyễn Trãi viết chùm thơ “Tự thán” khi cáo quan về ở ẩn. Bài thơ thể hiện nỗi lòng của thi gia khi đã lánh xa tiếng đời ồn ào náo nức. Về với núi rừng Côn Sơn, ông sống an nhàn như những cư sĩ ẩn dật bấy lâu, thưởng thức những thú vui tao nhã rượu, thơ, câu đối, đàn cầm. Nhưng ông nào có thể buông bỏ tất cả, thâm tâm vẫn hướng về dân về nước. Quan trường, xã hội lắm bon chen, nhiều lẽ thiệt hơn là nơi ông muốn lánh xa nhưng cũng là nơi cả đời ông mong được “lặn lội” để thỏa chí nguyện cứu nước giúp đời.

Bài tham khảo 2: Tự thán bài 38

Phồn hoa một đoạn tỉnh mơ,

Mẻ chuông tàn, cảnh thất thơ.

Chim có miệng kêu, âu lại ngậm,

Cáo khuyên lòng ở, mựa còn ngờ.

Chẳng cài cửa tiếc non che khuất,

Xá để thuyền cho nguyệt chở nhờ.

Ta ắt muốn nhàn, quan muốn lạnh,

Lo thay, vì lụy phải thờ ơ!

Bằng cảm nhận của mình, tác giả đã khái quát chung thời thế bấy giờ: chính quyền phong kiến suy thoái nghiêm trọng, gian thần lộng hành, phồn hoa ngày trước giờ đây chỉ là một giấc mộng, người ta tỉnh lại trong tiếng chuông tàn cuộc, tàn tạ, thê lương. Những người tri thức biết rõ sự đời lên tiếng nhưng “âu lại ngậm” vì kẻ cầm quyền đàn áp, đành cam phận nhắm mắt cho qua để gia đình và bản thân được yên ổn, có ở lại mà lòng đầy ngờ vực. Đó là ẩn ý sâu xa của một bậc vĩ nhân hết lòng vì dân vì nước. Vị quan phụ mẫu vẫn lo lắng cho thế cuộc nhưng triều đình nhiễu nhương đến thế, có lên tiếng rồi bọn gian thần phản loạn cũng không để ông được yên thân nên chỉ đành làm ra vẻ thờ ơ đến thế. Đó chính là bi kịch của một tấm lòng hết mình vì đất nước nhưng lại bị tước đi cái quyền được cống hiến sức mình.

Bài tham khảo 3: Mạn thuật bài 1

Ngày tháng kê khoai những sản hằng,

Tường đào ngõ mận ngại thung thăng.

Đạo ta cậy bởi chân non khoẻ,

Lòng thế tin chi mặt nước bằng.

Trì cỏ được câu ngâm gió,

Hiên mai cầm chén hỏi trăng.

Thề cùng viên hạc trong hai ấy,

Thấy có ai han chớ đãi đằng.

Nguyễn Trãi lúc này đang ở ẩn, ngoài vòng danh lợi, cuộc sống giản dị của người bình dân, tháng ngày làm bạn với “kê” với “khoai” gieo trồng quanh nhà, chẳng hề có gì gọi là cao lương mỹ vị. Ông chán chốn quan trường phức tạp, sống với cái đạo của mình, chỉ cần có đôi chân khỏe để lội suối trèo non. “Lòng thế” ở đây chính là lòng người, thoạt trông có vẻ phẳng lặng nhưng chẳng có gì đáng tin, không biết đằng sau kia có gì nguy hiểm. Thay vì dấn thân vào chốn ấy, thà rằng cứ uống rượu thưởng mai ở hiên nhà mình, giữ sạch lòng bình bằng thú vui tao nhã của người quân tử, thề với viên hạc, dặn dò vượn hạc như bầu bạn rằng tránh xa danh lợi, như ông đã từng tự nhủ lòng mình.

Bài tham khảo 4: Mạn thuật bài 13

Quê cũ nhà ta thiếu của nào?

Rau trong nội, cá trong ao.

Cách song mai tỉnh hồn Cô dịch,

Kề nước cầm đưa tiếng Cửu cao.

Khách đến vườn còn hoa lác,

Thơ nên cửa thấy nguyệt vào.

Cảnh thanh dường ấy chăng về nghỉ,

Lẩn thẩn làm chi áng mận đào

Bài thơ viết về cuộc sống của Nguyễn Trãi khi cáo quan về ở ẩn. Với ông, đây là cuộc sống không thiếu của nào, một cuộc sống “giàu có”: đủ rau quả, thịt cá, có vườn hoa đẹp đầy hương thơm, có sông nước và tiếng đàn hòa âm nhạc, có nhiều bạn bè, khách quý, có thơ ca mời gọi ánh trăng. Tác giả thể hiện tình yêu với thiên nhiên, tình yêu với chốn quê xa đời. Ở nơi ấy, tác giả không còn quan tâm đến danh lợi xa hoa, vui cảnh điền viên để tâm hồn được thanh thản, yên bình. Qua bài thơ, ta thấy được tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương cảnh vật giản dị của Nguyễn Trãi, đồng thời cảm nhận được cốt cách thanh cao, trong sạch của nhà thơ.

Bài tham khảo 5: Cây chuối

Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm

Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm.

Tình thư một bức phong còn kín

Gió nơi đâu gượng mở xem.

Nguyễn Trãi vốn yêu thiên nhiên, nhìn những sự vật giản dị quanh mình bằng những rung cảm tinh tế nhất. Ở đây Nguyễn Trãi xem cây chuối là một quân tử. Cây chuối là một loại cây dân dã bình dị, nhưng đã được Nguyễn Trãi thổi vào đó một linh hồn để thể hiện một cảm xúc sâu sắc, kín đáo về một tâm hồn cháy bỏng. Cây chuối đón xuân đến để thêm tươi tốt, thêm ngát hương, ngoài việc mượn hình ảnh cây chuối để thể hiện một tình yêu tuổi trẻ mãnh liệt, Nguyễn Trãi còn gửi vào đây một nổi niềm, một tấm lòng sâu lắng trước thời cuộc. Cây chuối đang đón đợi xuân hay chính bản thân ông đợi xuân. Với Nguyễn Trãi mùa xuân của ông là chính là tin vui từ nhà vua truyền về kinh được thoả lòng dũng tướng. Bài thơ thể hiện một tâm hồn cao cả, suốt cuộc đời vì dân vì nước, luôn trăn trở suy tư trước thời cuộc.

Bài tham khảo 6: Thủ vĩ ngâm

Góc thành Nam, lều một gian,

No nước uống, thiếu cơm ăn.

Con đòi trốn, dường ai quyến,

Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chăn.

Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá,

Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn.

Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải,

Góc thành Nam, lều một gian.

Bài thơ này có thể là làm trong lúc Nguyễn Trãi bị giam lỏng ở Đông Quan theo bài tựa của Nguyễn Khắc Kiệm hay là trong lúc ông bị Lê Thái Tổ ruồng bỏ sau khi bị giam vì bị nghi có liên quan với án Trần Nguyên Hãn, tuy được tha và vẫn giữ chức quan, nhưng không được làm việc gì. Chúng tôi (nhóm Đào Duy Anh) đoán là làm trong trường hợp thứ hai, vì trong thơ đã có vẻ chán chường lắm, không thể là giọng thơ của một người thanh niên 30 tuổi còn đầy tráng khí (lúc bị giam lỏng ở Đông Quan) mới gặp khó khăn nhất thời. Vả chăng nếu là bị giam ở Đông Quan thì không thể có câu “Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải”.

Bài tham khảo 7: Thính Vũ

Tịch mịch u trai lý

Chung tiêu thính vũ thanh

Tiêu tao kinh khách chẩm

Điểm trích sổ tàn canh

Cách trúc xao song mật

Hòa chung nhập mộng thanh

Ngâm dư hồn bất mị

Đoạn tục đáo thiên minh.

“Thính vũ” là một bài thơ chữ Hán đầy tình cảm bộc lộ tâm tư của tác giả bắt đầu là cảnh trời mưa, trong gian phòng u tối tịch mịch, thi nhân là khách trọ đã thức thâu đêm một mình trong căn phòng vắng vẻ u tối nghe tiếng mưa rơi tâm trạng bồn chồn, như chưa thực hiện một hoài bão lớn, một trách nhiệm nam nhi nợ nước thù nhà, tiếng trúc khua tiếng chuông chùa hoà âm điệu làm cho nỗi buồn càng chất ngất thức thâu đêm, ngoài trời mưa rỉ rả lúc to lúc nhỏ, ngâm thơ vẫn không sao ngủ được đến sớm mai. Dưới đây là bài thơ chữ Hán hay nhất của Nguyễn Trãi.

Bài tham khảo 8: Quan Hải

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền,

Trầm giang thiết toả diệc đồ nhiên.

Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ,

Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.

Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật,

Anh hùng di hận kỉ thiên niên.

Kiền khôn kim cổ vô cùng y,

Khước tại Thương Lang viễn thụ yên.

Quan Hải là một bài thơ đặc sắc của Nguyễn Trãi. Bài thơ được ông sáng tác vào thời điểm sau chiến thắng chống quân Minh xâm lược. Thể hiện sự suy tư về lẽ hưng vong của triều đại nhà Hồ ngắn ngủi, đồng thời cảm thán về nỗi đau uất hận của anh hùng thất thế. Đây chính là một bài thơ mang đậm ý nghĩa về lòng dân, có dân thì mọi chuyện tất thành. Bài thơ đầy ắp tâm trạng và vô cùng sâu sắc.

Bài tham khảo 9: Mộ xuân tức sự

Nhàn trung tận nhật bế thư trai,

Môn ngoại toàn vô tục khách lai.

Ðỗ Vũ thanh trung xuân hướng lão,

Nhất đình sơn vũ luyện hoa khai.

(Bản dịch của Khương Hữu Dụng:

Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn

Khách tục không ai bén mảng gần

Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn

Ðầy sân mưa bụi nở hoa xoan.)

Bài thơ “Mộ xuân tức sự” là một bài thơ chữ Hán đặc sắc của tác giả Nguyễn Trãi. Nó được viết khi ông lui về ở ẩn tại Côn Sơn. Bài thơ phác họa không gian cuối ngày xuân bên ngoài phòng văn của tác giả, thể hiện tâm hồn rộng mở, giao hòa với thiên nhiên, lắng nghe tiếng cuốc kêu và trông cánh hoa xoan nở đầy sân giữa làn mưa bụi. Không chỉ phơi phới tình yêu, niềm say mê với thiên nhiên, bài thơ còn gửi gắm nỗi niềm "ưu quốc" của Nguyễn Trãi. Tiếng cuốc kêu không chỉ gợi nhắc thời khắc cuối xuân đầu hạ, mà còn gợi đến vận nước đang khó khăn. Hơn nữa, tác giả thể hiện niềm tin và hy vọng của mình thông qua hình ảnh hoa xoan vẫn nở bừng ở cuối bài.

Bài tham khảo 10: Bảo kính cảnh giới bài 43

"Bảo kính cảnh giới" (bài số 43) là một tác phẩm tiêu biểu trong tập thơ Nôm "Quốc âm thi tập". Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật biến thể, câu lục ngôn xen lẫn với câu thất ngôn. Có thể nói, Nguyễn Trãi thật tài tình khi khắc họa nên một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của ngày hè. Bức tranh ấy là sự kết hợp hài hòa giữa âm thanh, hình ảnh và màu sắc. Ngắm nhìn cảnh sắc, tác giả không quên bày tỏ tâm trạng, tấm lòng yêu nước thương dân "Lẽ có Ngu Cầm đàn một tiếng,/ Dân giàu đủ khắp đòi phương". Đây cũng chính là những nội dung trọng tâm của "Bảo kính cảnh giới". Thông qua tác phẩm, ta còn thấy được tài năng nghệ thuật đỉnh cao ở Nguyễn Trãi. Bằng ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh thơ gần gũi kết hợp với hệ thống từ láy "đùn đùn", "lao xao", "dắng dỏi", tác giả đã làm nổi bật cảnh sắc mùa hè cùng cuộc sống đời thường của con người. Từ đây, em càng thêm yêu mến những áng thơ tuyệt tác như "Bảo kính cảnh giới" (bài số 43).