Giáo án Ngữ văn 9 kết nối: Bài 4 Ngày xưa
Giáo án Ngữ văn 9 kết nối tri thức: Bài 4 Ngày xưa. Bài được biên soạn đầy đủ, chỉn chu, chất lượng. File tải về là file word, giáo viên dễ dàng sử dụng, chỉnh sửa. Kênh có trọn bộ giáo án Word cả năm.
Nội dung chi tiết
Ngày soạn: …/…/…
Ngày dạy: …/…/….
TIẾT: VĂN BẢN 3: NGÀY XƯA
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức
Hiểu sâu sắc hơn về vẻ đẹp của Truyện Kiều, sức sống của Truyện Kiều.
Hiểu được có nhiều con đường để khám phá vẻ đẹp văn chương, có thể bằng những bài bình luận, phân tích, nhưng cũng có thể bằng những sáng tác nghệ thuật mang tính hình tượng.
2. Năng lực
Năng lực chung
Năng lực giao tiếp và hợp tác: khả năng thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập hay theo nhóm; Trao đổi tích cực với giáo viên và các bạn khác trong lớp.
Năng lực tự chủ và tự học: biết lắng nghe và chia sẻ ý kiến cá nhân với bạn, nhóm và GV. Tích cực tham gia các hoạt động trong lớp.
Giải quyết vấn đề và sáng tạo: biết phối hợp với bạn bè khi làm việc nhóm, tư duy logic, sáng tạo khi giải quyết vấn đề.
Năng lực đặc thù
Hiểu sâu sắc hơn về vẻ đẹp của Truyện Kiều, sức sống của Truyện Kiều.
Hiểu được có nhiều con đường để khám phá vẻ đẹp văn chương, có thể bằng những bài bình luận, phân tích, nhưng cũng có thể bằng những sáng tác nghệ thuật mang tính hình tượng.
3. Phẩm chất
Yêu thích việc khám phá vẻ đẹp văn chương, trân trọng lao động sáng tạo nghệ thuật của nhà văn.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
1. Đối với giáo viên
Giáo án;
SGK, SGV Ngữ văn 9;
Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi;
Tranh ảnh về tác giả, tác phẩm;
Bảng phân công nhiệm vụ cho HS hoạt động trên lớp;
Bảng giao nhiệm vụ học tập cho HS ở nhà;
2. Đối với học sinh
SGK, SBT Ngữ văn 9.
Sách tham khảo, tư liệu sưu tầm liên quan đến bài học…
Bảng giao nhiệm vụ học tập đã chuẩn bị ở nhà.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
A. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG
a. Mục tiêu: Tạo hứng thú cho HS, huy động tri thức nền, thu hút HS sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập tạo tâm thế tích cực cho HS khi vào bài học Ngày xưa.
b. Nội dung: GV hướng dẫn HS thảo luận nhóm đôi chia sẻ hiểu biết về sức sống của Truyện Kiều trong đời sống hôm nay.
c. Sản phẩm: Câu trả lời của HS.
d. Tổ chức thực hiện:
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập
- GV hướng dẫn HS thảo luận nhóm đôi Think – Pair – Share, dựa vào hiểu biết của em, chia sẻ: Theo em, “Truyện Kiều” có vai trò, vị trí như thế nào trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam?
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ học tập
- HS huy động tri thức nền, trải nghiệm cá nhân thực hiện yêu cầu được giao.
- GV quan sát, hỗ trợ HS thực hiện (nếu cần thiết).
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động, thảo luận
- GV mời đại diện 1 - 2 HS trình bày trước lớp.
- GV yêu cầu các HS khác lắng nghe, nhận xét, đặt câu hỏi (nếu có).
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
- GV nhận xét, đánh giá.
- Gợi mở: Hàng trăm năm qua, “Truyện Kiều” luôn là đại thi phẩm được mọi người dân Việt Nam biết đến, trở nên quen thuộc như giếng nước, bờ ao, lũy tre quanh nhà. Mê Kiều, say Kiều, người dân nước Việt sáng tạo ra nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa phong phú và độc đáo như ngâm Kiều, vịnh Kiều, lẩy Kiều, đố Kiều, dẫn Kiều, ru Kiều, bói Kiều, nhại Kiều... Từ một tác phẩm văn chương, “Truyện Kiều” đi vào đời sống bằng nhiều hình thức, trở thành “bộ phận không thể tách rời trong đời sống tâm hồn dân tộc Việt Nam nói chung và đời sống văn học nói riêng”.
- GV dẫn dắt vào bài học mới: Lấy cảm hứng từ “Truyện Kiều”, Vũ Cao đã sáng tác bài thơ Ngày xưa. Trong bài học hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu kiến thức về những nét hay và đặc sắc của tác phẩm này nhé!
B. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Hoạt động 1: Tìm hiểu chung về văn bản
a. Mục tiêu: Đọc văn bản, tìm hiểu về tác giả, xuất xứ văn bản.
b. Nội dung: HS sử dụng SGK, quan sát, chắt lọc kiến thức trả lời những câu hỏi liên quan đến bài học.
c. Sản phẩm học tập: Câu trả lời của HS và chuẩn kiến thức của GV.
d. Tổ chức thực hiện:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS | SẢN PHẨM DỰ KIẾN |
Nhiệm vụ: Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về văn bản Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập - GV yêu cầu HS thảo luận nhóm đôi Think – Pair - Share, thực hiện yêu cầu dưới đây: + GV hướng dẫn cách đọc và cho HS đọc trực tiếp văn bản, kĩ năng suy luận khi đọc văn bản thơ. + Trình bày những hiểu biết chung về tác giả Vũ Cao và xuất xứ bài thơ Ngày xưa. Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập - HS thảo luận theo nhóm, vận dụng kiến thức đã học để thực hiện nhiệm vụ. - GV quan sát, hỗ trợ HS (nếu cần thiết). Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận - GV mời đại diện 1 - 2 HS mỗi nhóm trình bày sản phẩm. - GV yêu cầu HS khác lắng nghe, nhận xét, đặt câu hỏi (nếu có). Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập - GV nhận xét, đánh giá, chốt kiến thức. - GV chuyển sang nội dung mới. | I. Tìm hiểu chung về văn bản 1. Đọc - Cách đọc: giọng đọc giàu cảm xúc, tha thiết, ngắt nhịp đúng với thể lục bát. 2. Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm
- Vũ Cao (1922 2007) quê ở Nam Định, từng tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. - Thơ ông thường viết về đề tài kháng chiến và những tình cảm cách mạng, ngôn ngữ và hình ảnh thơ trẻ trung, tươi mới và giàu cảm xúc. - Tác phẩm tiêu biểu: Núi đôi (thơ, 1956), Đèo trúc (thơ, 1973), Từ một trận địa (truyện ngắn, 1973),... b. Tác phẩm - Ngày xưa in trong tập Thơ với tuổi thơ, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2001.
|
Hoạt động 2: Khám phá văn bản
a. Mục tiêu: Khám phá nội dung, ý nghĩa và vẻ đẹp nghệ thuật của văn bản,
b. Nội dung: Sử dụng SGK, chắt lọc kiến thức để tiến hành trả lời các câu hỏi liên quan đến văn bản Ngày xưa.
c. Sản phẩm: Câu trả lời của HS và kiến thức HS tiếp thu được liên quan đến văn bản Ngày xưa và chuẩn kiến thức GV.
d. Tổ chức thực hiện:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS | DỰ KIẾN SẢN PHẨM |
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập - GV hướng dẫn HS thảo luận nhóm nhỏ gồm 4 HS theo kĩ thuật Khăn trải bàn với vị trí ngồi như hình vẽ dưới đây:
- GV yêu cầu HS hoàn thành những nhiệm vụ sau: + Bà ru cháu bằng những câu Kiều, mặc dù cháu còn rất nhỏ, chưa thể hiểu được. Điều đó gợi cho em suy nghĩ gì? + Hoàn thành Phiếu học tập số 1 về những cách tiếp cận “Truyện Kiều” được để cập đến trong bài thơ. + Bài thơ gợi cho em những suy nghĩ gì về sức sống của “Truyện Kiều” trong lòng người dân Việt Nam? Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ - HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời câu hỏi. - GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS (nếu cần thiết). Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận - GV mời đại diện 1 – 2 HS mỗi nhóm trình bày kết quả. - Các nhóm khác lắng nghe, đặt câu hỏi (nếu có). Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ - GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức. | II. Khám phá văn bản 1. Mục đích bà hát ru cháu bằng những câu Kiều - Cháu không hiểu những câu Kiều nhưng bà vẫn ru, và kết quả là “Con tôi đôi má tròn đầy/ Lại ngon giấc ngủ thơ ngây chiều chiều”. Như vậy, bà ru cháu bằng Truyện Kiều không phải vì nghĩ là cháu có thể hiểu được lời ru, mà chỉ là để đưa cháu vào giấc ngủ. Hiệu quả của mục đích này cho thấy Truyện Kiều đã phát huy giá trị về mặt giai điệu, nhạc tính. - Ngoài việc ru cháu ngủ, đó còn là cách bà thưởng thức Truyện Kiều, đồng cảm với những điều được nói đến trong tác phẩm, và thậm chí là thông qua những câu Kiểu đó để giãi bày một nét tâm trạng nào đó của mình. - Có thể thấy, trong cùng một hành động hát ru, người bà vừa có thể cảm nhận được ý nghĩa, thưởng thức cả nhạc tính của Truyện Kiều, vừa có thể ru cháu ngủ, từ đó, em bé cảm nhận được phần nhạc của Truyện Kiều. Tất nhiên, những yếu tố nội dung có thể thấm dần vào trong em một cách vô thức. - Trên thực tế, hát ru thường có mục đích song trùng: vừa đưa trẻ vào giấc ngủ, vừa thể hiện nỗi lòng của người ru; vừa có phần dành cho bé, vừa có phần dành cho người hát ru. Chẳng hạn: “Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ.../ Hôi chàng chàng ơi, hỡi người người ơi, em nhớ tới chàng...”. 2. Cách tiếp cận Truyện Kiều - Trong một bài thơ ngắn, nhưng đã có ba chủ thể – những người tiếp nhận Truyện Kiều. + Đối với “mẹ tôi”, Truyện Kiều khơi gợi niềm đồng cảm, xót thương: “Nghĩ mà thương phận cô Kiều ngày xưa”. Trước lời nói của người con, tuy bà “chẳng trả lời”, nhưng qua việc hát ru, có thể thấy với bà, Truyện Kiều có thể đưa em bé vào giấc ngủ. + Đối với “tôi”, Truyện Kiều vô cùng sâu sắc. Những câu thơ trong Truyện Kiều đã có từ xưa, có một khoảng cách rất xa so với đứa trẻ, nên trẻ con không thể hiểu được. + Đối với em bé, qua lời ru của bà, em bé đã tiếp nhận một cách vô thức giai điệu của Truyện Kiều. => Điều thú vị trong bài thơ này là có ba người tiếp nhận, ba thế hệ với những trải nghiệm khác nhau về Truyện Kiều. 3. Sức sống của Truyện Kiều trong lòng người dân Việt Nam Truyện Kiều đã đi vào đời sống của người dân Việt Nam thông qua nhiều hoạt động phong phú, trong đó có việc hát ru. Việc trở thành những câu hát ru khiến Truyện Kiều có một đời sống khác so với những tác phẩm văn học thông thường: vừa mang lại cho trẻ những giai điệu êm đềm, vừa giúp trẻ thẩm thấu được ngôn từ một cách tự nhiên. Đặc biệt, người bà ru cháu bằng Truyện Kiều với tất cả nỗi niềm yêu thương, đồng cảm với thân phận của nàng Kiều cho thấy tác phẩm của đại thi hào Nguyễn Du đã trở thành một phần máu thịt trong đời sống tinh thần của bà – một người có nhiều trải nghiệm về cuộc sống. Việc Truyện Kiều được tiếp nhận từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ mẹ sang con, từ con đến cháu chứng tỏ sức sống của tác phẩm mãi trường tồn theo thời gian. |
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
| |
Nhiệm vụ 2: Tổng kết Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập GV hướng dẫn HS thảo luận nhóm đôi Think – Pair - Share: Tổng kết giá trị nội dung văn bản “Ngày xưa”. Em có nhận xét gì về hình thức nghệ thuật của bài thơ (thể thơ, ngôn ngữ, hình ảnh…)? Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ - HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời câu hỏi. - GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS (nếu cần thiết). Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động - GV mời 1 – 2 HS trình bày kết quả. - GV yêu cầu HS khác lắng nghe, nhận xét, nêu ý kiến bổ sung (nếu có). Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ - GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức. - GV chuyển sang nội dung mới. | 2. Tổng kết a. Nội dung Bài thơ nói về lời ru của người bà dành cho đứa cháu bé bỏng của mình, qua đó thể hiện tình cảm, sự yêu thương, bà đã truyền cho cháu tình yêu với Truyện Kiều – áng văn bất hủ, là niềm tự hào của văn hóa dân tộc Việt Nam. b. Nghệ thuật - Bài thơ sử dụng thể thơ lục bát, cũng là thể thơ mà Truyện Kiều sử dụng, có yếu tố tự sự, cho nên ít nhiều có sự đồng vọng, bắt nối với Truyện Kiều về mặt âm hưởng. - Điều thú vị trong cách tổ chức của bài thơ là sự đan xen những câu “kể”, “dẫn dắt” của người con và những câu Kiều được trích nguyên vẹn cùng với câu trả lời của người mẹ, đồng thời còn xuất hiện một đối tượng khác, một người tiếp nhận lặng lẽ – đứa cháu. - Cách tổ chức này khiến bài thơ trở nên sinh động, nhiều giọng điệu, nhiều cái nhìn, giàu sức gợi. |
C. HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP
a. Mục tiêu: HS củng cố, mở rộng kiến thức đã học về văn bản Ngày xưa.
b. Nội dung: Sử dụng SGK, kiến thức đã học để trả lời các câu hỏi liên quan đến văn bản Ngày xưa.
c. Sản phẩm: Câu trả lời của HS và chuẩn kiến thức của GV.
d. Tổ chức thực hiện
Nhiệm vụ 1: Trả lời câu hỏi trắc nghiệm
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập
- GV phát Phiếu bài tập cho HS thực hiện nhanh tại lớp.
Trường THPT:……………………… Lớp:………………………………….. Họ và tên:……………………………..
PHIẾU BÀI TẬP VĂN BẢN NGÀY XƯA
Khoanh tròn vào đáp án đặt trước câu trả lời đúng: Câu 1: Vì sao bà ru cháu bằng những câu Kiều mặc dù cháu còn rất nhỏ, chưa thể hiểu được? A. Vì bà rất thích Truyện Kiều. B. Vì bà muốn nuôi dưỡng tâm hồn cháu bằng những câu Kiều từ thuở nằm nôi. C. Vì bà tin rằng cháu rất thông minh, có thể sớm hiểu được những câu kiều. D. Vì bà tin rằng những câu Kiều sẽ giúp cháu ngủ ngon hơn. Câu 2: Cụm từ “chiều chiều” trong câu “Mẹ tôi ru cháu chiều chiều” thể hiện điều gì? A. Thời gian mà cháu ngủ. B. Khoảng thời gian bà ru cháu bằng câu Kiều. C. Khoảng thời gian bà ru cháu và lặp đi lặp lại mỗi ngày đều đặn. D. Khoảng thời gian đều đặn lặp đi lặp lại mỗi ngày. Câu 3: Vì sao người cha lo lắng con sẽ không hiểu được câu Kiều bà ru? A. Vì những câu Kiều đã có từ rất lâu trong khi người con vẫn còn nhỏ nên sẽ không hiểu được câu thơ xưa cũ. B. Vì những câu Kiều quá khó hiểu với con. C. Vì những câu Kiều chỉ dành cho người lớn tuổi nghe. D. Vì có thể con sẽ không thích nghe hát ru bằng những câu Kiều. Câu 4: Thân phận cô Kiều như thế nào mà khiến bà phải bâng khuâng: “Nghĩ mà thương phận cô Kiều”? A. Tài hoa bạc mênh, chịu nhiều lận đận, khổ đau. B. Bình yên, ít sóng gió. C. Lận đận trong chuyện tình duyên. D. Gia cảnh khó khăn, chật vật kiếm sống. Câu 5: Việc “thương phận cô Kiều” thể hiện điều gì trong tính cách, tâm hồn của người bà? A. Sự đồng cảm, nhân hậu, vị tha. B. Sự bao dung, rộng lượng, hào phóng. C. Sự hi sinh, vất vả, lam lũ. D. Sự hiền từ, đức độ, chăm chỉ. |
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ:
- HS tiếp nhận nhiệm vụ học tập.
- GV quan sát, hỗ trợ HS thực hiện (nếu cần thiết).
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động, thảo luận
- GV mời đại diện 2 – 3 HS đọc đáp án trước lớp theo Phiếu bài tập.
- GV mời một số HS khác đọc đáp án khác (nếu có).
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
----Còn tiếp----
Tài liệu cùng môn học
- Trắc nghiệm văn 9 kết nối tri thức
- Giáo án word văn 9 kết nối tri thức
- Giáo án ppt văn 9 kết nối tri thức
- Giáo án word dạy thêm văn 9 kết nối tri thức
- Giáo án ppt dạy thêm văn 9 kết nối tri thức
- Soạn văn 9 kết nối tri thức
- Phiếu bài tập văn 9 kết nối tri thức
- Lý thuyết văn 9 kết nối tri thức
- Soạn ngắn văn 9 kết nối tri thức
- Câu hỏi xoay quanh Ngữ văn 9 kết nối tri thức
- Văn mẫu 9 kết nối tri thức
- Đề thi ngữ văn 9 kết nối tri thức
- Ppt trò chơi AI Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
- Tóm tắt tác phẩm văn 9 kết nối tri thức
- Video AI mở đầu Ngữ văn 9 kết nối tri thức
Tài liệu khác
- Trắc nghiệm văn 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm địa lí 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm KHTN 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm công dân 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm lịch sử 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm toán 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm tin học 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm âm nhạc 9 kết nối tri thức
- => Xem nhiều môn hơn


