Câu hỏi xoay quanh văn 9 kết nối: bài 2 Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ song thất lục bát)

Câu hỏi xoay quanh môn Ngữ văn 9 kết nối tri thức: Bài 2 Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ song thất lục bát). Phần câu hỏi gồm 4 mức độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng và Vận dụng cao bám sát với chương trình sách giáo khoa. Thông qua các câu hỏi, học sinh có thể ôn luyện kiến thức đã học từ cơ bản đến nâng cao.

Nội dung chi tiết

BÀI 2: NHỮNG CUNG BẬC TÂM TRẠNG

VIẾT: VIẾT MỘT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC (THƠ SONG THẤT LỤC BÁT)
(15 câu)

1. NHẬN BIẾT (5 câu)

Câu 1: Thơ song thất lục bát là gì? Hãy nêu cấu trúc và đặc điểm chính của thể thơ này?

Trả lời:

- Song thất lục bát là thể thơ có nguồn gốc dân tộc, kết hợp đan xen từng cặp câu 7 tiếng (song thấy) với từng cặp câu 6 và 8 tiếng (lục bát). Bài thơ song thất lục bát có thể được chia khổ hoặc không, số câu trong mỗi câu thơ không cố định.

- Tương tự như thể lục bát, song thất lục bát cũng có hiện tượng biến thể: có khi bài thơ mở đầu bằng cặp lục bát chứ không phải cặp song thất; có khi một số cặp câu lục bát liền nhau sau đó mới đến cặp song thất; có khi số chữ của các câu thơ không theo quy định.

Câu 2: Chọn một bài thơ song thất lục bát mà bạn yêu thích và tóm tắt nội dung chính của bài thơ đó?

Trả lời:

Tiếng đàn mưa của Bích Khuê là một bài thơ song thất lục bát tiêu biểu. Đã thành công khắc họa nên tâm trạng của con người tha hương trước cảnh mưa rơi. Rời xa quê hương, cảm nhận được sự cô đơn mà cuộc sống mang lại, con người lại nhớ về những khung cảnh đầy quen thuộc. Nỗi khắc khaoir của một tâm hồn, mang một nỗi nhớ nhung xa vời. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, và khi người buồn, thì tiếng mưa rơi cũng trở thành một tiếng đàn buồn thương, xuyến xao và ngập tràn nỗi nhớ thương.

Câu 3: Nêu cảm nhận của em về hình ảnh thiên nhiên trong một bài thơ song thất lục bát mà em đã đọc?

Trả lời:

Trong bài thơ Tiếng Đàn Mưa (Bích Khuê) thiên nhiên hiện lên như một người bạn tâm giao, tỏ bày nỗi niềm của chủ thể trữ tình. Với việc sử dụng những hình ảnh sống động, lặp lại từ "mưa" để nhấn mạnh không gian gợi cảm, cùng với giọng thơ nhẹ nhàng, đã khơi gợi nỗi cảm từng chữ câu trong tâm trí người đọc. Bài thơ của Bích Khê đã thành công trong việc gợi lên cảm xúc, suy tư về nỗi nhớ, sự cô đơn và tình yêu thiên nhiên mà mưa mang lại.

Câu 4: So sánh sự khác biệt giữa thơ song thất lục bát và một thể thơ khác mà bạn đã học. Điều gì làm cho thể thơ này đặc biệt?

Trả lời:

Song thất lục bát

Lục bát

Cấu trúc

Là thể thơ có sự kết hợp giữa hai dòng thơ thất ngôn (7 chữ) và một dòng thơ lục bát (6 chữ). Cụ thể, cấu trúc thường là: 7-7-6, tạo thành một khổ thơ.

Là thể thơ truyền thống của Việt Nam, có cấu trúc 6 chữ (lục) và 8 chữ (bát) xen kẽ. Mỗi khổ thơ thường có 2 dòng: 6-8, và có thể lặp lại nhiều lần.

Âm điệu và nhịp điệu

Thể thơ này có âm điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển với nhịp điệu linh hoạt, thường tạo cảm giác trôi chảy, dễ nhớ. Sự kết hợp giữa các dòng 7 chữ và 6 chữ tạo ra một nhịp điệu độc đáo và phong phú.

Thể thơ này mang âm điệu sâu lắng, dễ tạo cảm xúc và thường sử dụng nhiều biện pháp tu từ để làm nổi bật ý nghĩa. Nhịp điệu của thơ lục bát thường có sự nhấn nhá rõ rệt, tạo nên sự trang trọng và cổ điển.

Chủ đề, nội dung

Thể thơ này thường được sử dụng để thể hiện những tình cảm sâu sắc, những tâm tư phức tạp, từ tình yêu đến nỗi buồn, nỗi nhớ. Nó thích hợp cho những bài thơ mang tính chất tự sự và diễn tả cảm xúc.

Thể thơ này thường được sử dụng để kể chuyện, phản ánh đời sống và lịch sử, hoặc thể hiện những bài thơ dân gian. Nội dung thường phong phú, đa dạng, từ tình yêu đến phong tục tập quán.

Đặc điểm nổi bật

Sự kết hợp giữa hai dòng thất ngôn và một dòng lục bát không chỉ làm cho thể thơ này trở nên đặc biệt mà còn tạo ra sự mới mẻ trong cách thể hiện cảm xúc. Nó cho phép tác giả linh hoạt trong việc diễn đạt mà vẫn giữ được sự hài hòa trong âm điệu.

Là thể thơ truyền thống, có sức sống lâu bền trong văn học Việt Nam. Nó mang đậm dấu ấn văn hóa và lịch sử, thể hiện tâm hồn và bản sắc dân tộc.

Câu 5: Phân tích ý nghĩa của một hình ảnh hoặc biểu tượng nổi bật trong bài thơ song thất lục bát mà em đã chọn?

Trả lời:

Trong bài thơ Chinh phụ ngâm, hình ảnh người chinh phụ nhìn mãi, ngóng theo chồng nơi xa, nhưng càng trông theo lại càng không thấy bóng dáng chồng đã để lại cho em một ấn tượng vô cùng sâu sắc:

“Đoái trông theo đã cách ngăn,

Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh.”

Nàng nhìn về phía chồng, không thấy đạn khói của chiến tranh, chỉ thấy “mây biếc” và “núi xanh”. Màu xanh bao trùm lấy hai câu thơ, không chỉ miêu tả khung cảnh trước mắt người chinh phụ, mà còn gợi cảm giác heo hút, lạnh lẽo, cô đơn trong cõi lòng của nàng. Biện pháp đảo ngữ “tuôn màu mây biếc” và “trải ngàn núi xanh” khiến không gian thiên nhiên như trải dài vô tận.

2. THÔNG HIỂU (5 câu)

Câu 1: Thảo luận về cảm xúc và tâm trạng của nhân vật trữ tình trong một bài thơ song thất lục bát cụ thể?

Trả lời:

Nếu như trong Bạn đến chơi nhà, ông dùng giọng văn hóm hỉnh, khôi hài để nói về tình bạn không màng vật chất, thì sang bài thơ Khóc Dương Khuê, giọng thơ đã thay đổi hẳn. Cả bài thơ như tiếng khóc nấc lên trong sự buồn bã của Nguyễn Khuyến khi đến đám tang của người bạn Dương Khuê.Xét cho cùng, tình bạn giữa hai người Nguyễn Khuyến và Dương Khuê vốn không phải là một tình bạn thật hoàn toàn như ý. Tuy đỗ cử nhân cùng khoa thi với Nguyễn Khuyến, rồi đỗ tiến sĩ, cùng làm quan cho triều Nguyễn, nhưng sau năm 1884, năm đất nước thật sự mất vào tay thực dân Pháp, Dương Khuê lại không có được cái chí như Nguyễn Khuyến. Không cáo quan về làng, Dương Khuê tiếp tục làm quan cho triều đình tay sai thực dân cho đến tận lúc qua đời ở tuổi 64 (1902).

Tuy vậy, nói thế là để nhìn rõ hết mọi chuyện. Người Việt Nam ta vẫn có câu: nghĩa tử là nghĩa tận. Cái chết đột ngột của Dương Khuê đã thật sự li: một nỗi đau cho Nguyễn Khuyến. Lúc ấy, quên hết mọi điều, ông chỉ còn biết một điều duy nhất: ông đã mất một người bạn thân, mất một nguồn tình cảm quý giá không thế lấy gì thay thế được.

Có thể khẳng định rằng trong thơ Việt Nam đã có rất nhiều bài thơ hay thể hiện tình cảm đẹp đẽ chân thành, nhưng cả cho đến nay, chưa có bài thơ nào nói về tình bạn có thể sánh bằng bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến. Cái hay ấy trước hết xuất phát từ một tình bạn đẹp và chân thành của một tâm hồn cao thượng. Cái hay ấy còn là cái hay của một nghệ thuật diễn đạt, một ngôn ngữ diễn đạt giản dị, tự nhiên, đầy tính dân tộc, hoàn toàn phù hợp với nội dung tình cảm mà bài thơ cần diễn đạt.

Câu 2: Nêu rõ quan điểm của bạn về vai trò của thơ song thất lục bát trong nền văn học Việt Nam. Tại sao thể thơ này lại được ưa chuộng?

Trả lời:

* Vai trò của thơ song thất lục bát trong nền văn học Việt Nam

- Bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc: Thơ song thất lục bát là một trong những thể thơ truyền thống của Việt Nam, góp phần bảo tồn văn hóa và ngôn ngữ dân tộc. Qua các tác phẩm, thể thơ này phản ánh tâm tư, tình cảm và lối sống của người Việt, từ đó giữ gìn bản sắc văn hóa.

- Diễn đạt tâm tư sâu sắc: Thể thơ này cho phép tác giả thể hiện những cảm xúc phức tạp một cách tinh tế. Cấu trúc linh hoạt giữa các dòng thơ thất ngôn và lục bát giúp tác giả dễ dàng chuyển tải những tâm trạng như yêu thương, nỗi nhớ, hay nỗi buồn, tạo nên sự gần gũi và đồng cảm với người đọc.

- Khả năng kết hợp giữa truyền thống và hiện đại: Thơ song thất lục bát có sức hấp dẫn bởi khả năng kết hợp giữa các yếu tố cổ điển và hiện đại. Nhiều tác giả hiện nay vẫn sử dụng thể thơ này để sáng tác, thể hiện cái mới trong tư tưởng và cảm xúc, đồng thời vẫn giữ được tinh thần của thể thơ truyền thống.

- Đóng góp vào sự phong phú của văn học: Thơ song thất lục bát đã đóng góp không nhỏ vào kho tàng văn học Việt Nam. Nhiều tác phẩm nổi tiếng đã được sáng tác bằng thể thơ này, từ các nhà thơ cổ điển như Nguyễn Du đến các tác giả hiện đại. Điều này làm cho thể thơ trở thành một phần không thể thiếu trong lịch sử văn học.

* Tại sao thể thơ này lại được ưa chuộng

- Tính linh hoạt và sáng tạo: Cấu trúc của thơ song thất lục bát cho phép tác giả tự do sáng tạo, linh hoạt trong việc lựa chọn từ ngữ và hình ảnh. Điều này thu hút nhiều nhà thơ muốn thể hiện cá tính và phong cách riêng.

- Âm điệu và nhịp điệu hấp dẫn: Âm điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển của thể thơ này khiến cho người đọc dễ tiếp cận và cảm nhận. Nhịp điệu phong phú tạo nên sự sinh động, dễ nhớ, dễ thuộc, làm cho thơ trở nên gần gũi hơn với công chúng.

- Phản ánh thực tế cuộc sống: Thơ song thất lục bát thường phản ánh những vấn đề xã hội, tâm tư, tình cảm của con người trong cuộc sống hàng ngày. Điều này khiến cho thể thơ trở thành một phương tiện hữu hiệu để truyền tải thông điệp và cảm xúc đến với người đọc.

- Tính phổ biến và dễ tiếp cận: Thể thơ này được dạy và học rộng rãi trong chương trình giáo dục, từ đó giúp nhiều thế hệ hiểu và yêu thích thể thơ này. Sự phổ biến trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật cũng góp phần làm tăng sức hấp dẫn của nó.

Câu 3: Phân tích mối liên hệ giữa nội dung và hình thức trong một bài thơ song thất lục bát, từ đó rút ra bài học về nghệ thuật sáng tác?

Trả lời:

- Trong thể thơ song thất lục bát, sự gắn kết giữa nội dung và hình thức là rất chặt chẽ, tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho bài thơ.

1. Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức:

- Hình thức: Thể thơ song thất lục bát gồm 14 câu với cấu trúc nhịp nhàng: 2 câu thơ đầu (song thất) là 8 âm, tiếp theo là 6 câu lục bát (câu đầu 6 âm, câu sau 8 âm). Cách gieo vần phong phú và nhịp điệu tạo nên âm thanh hài hòa, dễ nhớ. Cấu trúc này giúp tạo cảm giác cân đối và ấn tượng cho người đọc.

- Nội dung: Nội dung của thơ song thất lục bát thường giàu tính biểu cảm, có thể truyền tải cảm xúc sâu lắng, độc đáo, từ tình yêu, tâm tư đến hiện thực xã hội. Các chủ đề thường mang tính nhân văn sâu sắc, nhấn mạnh cảm xúc và suy tư của con người.

- Mối liên hệ: Hình thức vừa là phương tiện diễn đạt ý tưởng, vừa tạo điều kiện cho nội dung trở nên sinh động, hấp dẫn hơn. Chẳng hạn, việc sử dụng vần và nhịp điệu làm tăng tính nhạc cho bài thơ, giúp nội dung được tiếp nhận dễ dàng và sâu sắc hơn. Ngoài ra, hình thức gọn gàng cũng giúp người sáng tác tinh chỉnh cảm xúc và ý tưởng, từ đó mang lại chiều sâu cho nội dung.

2. Bài học về nghệ thuật sáng tác:

- Sáng tạo trong giới hạn: Hình thức nhất định có thể gây ra sự ràng buộc, nhưng chính trong những giới hạn đó, nghệ sĩ có thể khai thác triệt để để bộc lộ ý tưởng và cảm xúc cá nhân một cách độc đáo.

- Tôn trọng cấu trúc: Cấu trúc rõ ràng trong các bài thơ không chỉ giúp người đọc dễ dàng tiếp cận mà còn tăng cường sức mạnh cho nội dung. Người sáng tác cần nắm vững quy tắc ngữ pháp, âm điệu của thể thơ để có thể vận dụng một cách linh hoạt.

- Sự hòa quyện giữa hình thức và nội dung: Không nên tách rời hai yếu tố này, mà cần nhìn nhận chúng như một thể thống nhất. Hình thức nhân văn sẽ làm cho nội dung thêm sâu sắc, còn nội dung phong phú sẽ làm cho hình thức trở nên sống động.

Câu 4: Chọn một tác giả nổi tiếng viết thơ song thất lục bát và phân tích phong cách sáng tác của họ, cũng như ảnh hưởng của họ đến thể loại thơ này?

Trả lời:

Nguyễn Khuyến là một nhà thơ nôm nói chung và có những tác phẩn song thất lục bát xuất sắc nói riêng của làng cảnh Việt Nam. Lối viết thơ văn sáng tạo, ngôn ngữ giàu màu sắc, dòng thơ gợi cảm, mỹ lệ, giàu cảm xúc với thiên nhiên, con người và quê hương.

Trong thơ chữ nôm, tác giả vừa là nhà thơ trào phúng vừa là nhà thơ trữ tình, nhuốm đậm tư tưởng Lão Trang và triết lý Đông Phương. Thi nhân có sáng tác thơ chữ Hán nhưng hầu hết là thơ trữ tình. Cả hai lĩnh vực Nguyễn Khuyến đều mang về những thành công và tạo nên giá trị cho nền văn học Việt Nam

Những bài thơ luôn gợi tả chân thực hình ảnh và tâm trạng của nhà thơ nhờ ngôn ngữ đậm chất trữ tình, tả cảnh đầy tâm trạng và lấp láy giàu nhạc điệu. Nhờ đó, các tác phẩm đã thể hiện tấm lòng yêu nước sâu đậm, thiết tha đồng thời thể hiện rõ thái độ chống đối thực dân Pháp.

Ngoài ra, độc giả còn thấy được tình yêu dành cho thiên nhiên, con người, đất nước, tình bạn và tình cảm gia đình cũng là nội dung phổ biến trong tác phẩm của nhà thơ. .

Nguyễn Khuyến sử dụng ngôn ngữ trào phúng, nhiều cung bậc kết hợp với một chút hóm hỉnh, cường điệu chơi chữ của ông rất điêu luyện tài tình. Tác giả tinh tế chuyển những hoạt động trong đời thường thành những câu thơ điêu luyện với ngôn ngữ nhẹ nhàng, bám sát với đời sống của người lao động. Qua phong cách nghệ thuật độc đáo và những giá trị Nguyễn Khuyến để lại cho nền văn học Việt Nam, chúng ta có thể kết luận rằng Nguyễn Khuyến chính là bậc thầy của làng thơ Việt Nam với hồn thơ giàu cảm xúc, hình ảnh chân thật, thôn quê đầy sự thương yêu.

Nguyễn Khuyến nổi tiếng với các tập thơ như: Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập, Cẩm Ngữ,.. Cụ thể là một số tác phẩm và để lại giá trị to lớn cho nền văn học Việt Nam như: Bạn đến chơi nhà, Muốn lấy chồng, Khóc Dương Khuê, Than nghèo, than già, than nợ, cảnh Tết, cảnh già, châu chấu đá voi, Đề Tranh Tố Nữ, Cáo quan về ở nhà, chợ đồng, chừa rượu, thầy đồ mắc lừa gái,... cùng nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng.

Nguyễn Khuyến có biệt tài là gợi tả, mang đến cho độc giả cảm giác gần gũi như đang nhìn thấy trước mắt với màu xanh biếc của nước, của trời, của tre, của bè hay màu đỏ hoe của mắt, màu sáng của trăng, màu sương giúp người đọc cảm nhận được tình yêu thiên nhiên bao la của tác giả. Hiện nay, nhân dân ta đã đặt tên cho rất nhiều con đường hay ngôi trường mang tên Nguyễn Khuyến để tưởng nhớ vị thi nhân tài ba này.

Câu 5: Hãy nêu một vài tác giả nổi tiếng viết thơ song thất lục bát và tác phẩm tiêu biểu của họ?

Trả lời:

Đoàn Thị Điểm: Tống Biệt Hành

Nguyễn Khuyến: Khóc Dương Khuê

Trần Tuấn Khải: Hai chữ nước nhà ( Bút quan hoài I)

3. VẬN DỤNG (3 câu)

Câu 1: Em hãy thể kể tên một vài chủ đề thường gặp trong thơ song thất lục bát không?

Trả lời:

- Tình yêu: Tình yêu trong thơ song thất lục bát thường được thể hiện qua những cảm xúc mãnh liệt, tinh tế. Các nhà thơ miêu tả nỗi nhớ nhung, niềm vui và cả sự đau khổ trong tình yêu. Thông qua hình ảnh và âm điệu nhẹ nhàng, thơ ca truyền tải những tâm tư sâu lắng của người yêu.

- Thiên nhiên trong thơ song thất lục bát thường được miêu tả với vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng. Các nhà thơ thường sử dụng hình ảnh thiên nhiên để phản ánh tâm trạng của con người, tạo nên sự hòa quyện giữa con người và cảnh vật.

- Đất nước: Tình yêu quê hương, đất nước là một chủ đề lớn trong thơ ca Việt Nam. Thơ song thất lục bát thường thể hiện niềm tự hào về văn hóa, lịch sử và vẻ đẹp của quê hương, đồng thời phản ánh nỗi lo âu về vận mệnh đất nước.

- Con người và cuộc sống: Thơ ca thường phản ánh những trăn trở, suy tư về cuộc sống, số phận con người. Các nhà thơ khắc họa những khó khăn, thử thách trong cuộc sống, đồng thời tìm kiếm ý nghĩa và giá trị của cuộc sống.

- Nhân sinh và triết lý: Những bài thơ mang tính triết lý thường suy ngẫm về cuộc đời, nhân sinh, và những giá trị vĩnh cửu. Các nhà thơ thường đặt ra những câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống, sự tồn tại của con người.

Câu 2: Viết dàn ý chung cho bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm thơ song thất lục bát?

Trả lời:

- Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác phẩm thơ song thất lục bát (nhan đề, tên tác giả) và nêu ý kiến chung về tác phẩm.

- Thân bài: Lần lượt phân tích các phần theo bố cục tác phẩm thơ:

+ Phần 1 (từ câu…đến câu…): phân tích những tâm tư, nỗi niềm, khát vọng,…và một số nét đặc sắc về nghệ thuật.

+ Phần 2 (từ câu…đến câu…): phân tích những tâm tư, nỗi niềm, khát vọng,…và một số nét đặc sắc về nghệ thuật.

+…

Ngoài cách phân tích tác phẩm theo bố cục, có thể phân tích theo lần lượt đi từ nội dung đến hình thức nghệ thuật hoặc ngược lại.

- Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm thơ.

4. VẬN DỤNG CAO (2 câu)

Câu 1: Viết dàn ý một bài văn nghị luận song thất lục bát em thích?

Trả lời:

1. Mở bài: Giới thiệu tác giả tác phẩm.

2. Thân bài

- Khổ 1: Những sự vật, hiện tượng phụ họa cùng mưa.

- Khổ 2: Những nơi mưa rơi xuống.

- Khổ 3: Cảnh vật khi mưa rơi xuống.

- Khổ 4: Nguyên nhân khiến “khách tha hương” rơi lệ.

-> Giá trị nghệ thuật: Thể thơ song thất lục bát, ngôn từ giàu sức biểu cảm, cùng biện pháp tu từ liệt kê, điệp từ và giọng thơ nhẹ nhàng, có sức gợi. Bức tranh về nỗi nhớ quê hương.

-> Giá trị nội dung: Sự cô đơn cùng nỗi nhớ của những người con xa quê. Chân trọng chốn quê hương yên bình.

3. Kết bài: Khẳng định nội dung và nghệ thuật.

Câu 2: Từ dàn ý câu trên hãy viết một bài văn nghị luận phân tích tác phẩm thơ song thất lục bát?

Trả lời:

Mỗi khi mưa rơi, dường như cảm xúc trong mỗi người lại trở nên nhạy cảm hơn. Tiếng mưa đi kèm với những tâm trạng nhớ nhung, khắc khoải và những suy tư về cuộc sống. Cũng như chúng ta, đứng trước mưa mà xao xuyến nỗi lòng, Bích Khê đã đưa cảm xúc ấy vào chính tác phẩm của mình, bài thơ Tiếng đàn mưa.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã gợi lên khung cảnh về một ngày mưa:

“Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng
Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan
Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn
Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân.”

Sự vật như rơi rụng cùng những giọt mưa nặng hạt. Những giọt mưa rơi xuống, rơi xuống từng hạt rồi xuống “lầu”, xuống cả “thềm lan”. Mưa bao trùm mọi thứ xung quanh. Khung cảnh của một ngày mưa được tái hiện cùng sự rụng rơi của những sự vật. Một khung cảnh tả thực, được vẽ nên bằng chính ngòi bút của tác giả. Ông gọi tiếng những giọt mưa rơi ấy là “giọng đàn mưa xuân”. Mưa xuân, mùa mưa mang đến hạnh phúc, vậy nên tiếng mưa dưới mùa xuân nghe thấy tiếng đàn. Tiếng đàn ấy mang sức thôi miên con người, nghĩ v về những gì đã qua êm ái, những gì tốt đẹp còn vương lại trong tâm trí. Mưa rơi, bao phủ lên mọi nẻo, mọi chốn:

“Lầu mưa xuống, thêm lan mưa xuống
Cùng nước non hoa rụng mưa xuân
Mưa rơi ngoài nội trên ngàn
Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi.”

Mưa rơi xuống lầu, lại rơi xuống thềm hoa lan xinh đẹp. Mưa rơi từ những cánh đồng tới những núi non suối thác. Một khung cảnh chỉ toàn những giọt nước mưa rửa trôi những thứ cũ để mang đến những cái mới lạ. “Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi” đâu đó ta nghe thấy tiếng của nỗi lòng đầy tâm sự. Tiếng đàn có thể cất lên trong tiếng mưa chút buồn. Nó gợi lên cái tâm tư riêng khó đoán của người khác. Lúc vui lúc buồn, chỉ có thể là nhớ và tìm những hoài niệm xưa chốn cũ:

“Đầm mưa xuống nẻo đồi mưa xuống
Bóng dương tà rụng bóng tà dương
Hoa xuân rơi với bóng dương
Mưa trong ý khách mưa cùng nước non.”

Lại tiếp tục là một khổ thơ nói tới những nơi mưa rơi xuống, cảnh vật cũng rơi cũng rụng theo mưa. Khắp nẻo đồi thấy mưa rơi thành đầm. Khi mà mặt trời chuẩn bị lặn, cùng với những cánh hoa xuân, khung cảnh mờ ảo, hư thực mà đầy mơ mộng. Ta thấy được sự cảm nhận, tình yêu thiên nhiên sâu sắc mới có thể tinh ý nhận ra vẻ đẹp đến từ thiên nhiên dưới những cơn mưa như vậy. “Mưa trong ý khách mưa cùng nước non”, đâu đó ta thấy được tình yêu thiên nhiên, đất nước, nơi đang tồn tại của nhân vật. Chính những cung bậc cảm xúc và tình yêu thiên nhiên như vậy, mới nghe được tiếng mưa như một tiếng đàn và cũng mới thấu được cái đẹp mà thiên nhiên đem lại. Mượn cảnh mà cũng gợi được tình, gợi cái cảm xúc và suy tư:

“Rơi hoa kết mưa còn rả rích
Càng mưa rơi cánh tịch bóng dương
Bóng dương với khách tha hương
Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi”

Mưa rơi khơi nguồn cảm xúc. Sự cô đơn dưới “bóng dương” đã làm tâm trạng sầu càng thêm sầu, buồn càng thêm buồn. Sự cô đơn như bao trùm, cùng nỗi nhớ về vùng đất xưa mà “muôn hàng lệ rơi”. Khổ thơ cuối như lý giải cảm xúc của cả bài thơ. Sự buồn rầu, nhớ nhung, cô đơn đã biến tiếng mưa trở thành tiếng đàn, ngân lên khúc nhạc đầy xao xuyến, khắc khoải, đầy nỗi nhớ nhung đang tuôn chảy vào từng lớp cảm xúc và tâm hồn của “người khách tha hương”.

Bích Khê đã thành công sử dụng thể thơ song thất lục bát kết hợp với những ngôn từ giàu sức biểu cảm để nói lên tâm trạng một cách sâu sắc. Cùng với đó là những biện pháp tu từ gần gũi như liệt kê cảnh vật trong mưa, lặp đi lặp lại những cảnh vật và đặc biệt là từ “mưa” để nhấn mạnh không gian gợi nên cảm xúc. Kết hợp với giọng thơ nhẹ nhàng, đã gợi nên cảm xúc từng câu từng chữ cũng cứ nhẹ nhàng lướt trong tâm trí người đọc. Nói về nỗi nhớ, sự cô đơn mà không hề nặng nề về cảm xúc mà cứ nhẹ rơi như những giọt mưa mang âm thanh của tiếng đàn.

Tiếng đàn mưa đã thành công khắc họa nên tâm trạng của con người tha hương trước cảnh mưa rơi. Rời xa quê hương, cảm nhận được sự cô đơn mà cuộc sống mang lại, con người lại nhớ về những khung cảnh đầy quen thuộc. Nỗi khắc khoải của một tâm hồn, mang một nỗi nhớ nhung xa vời. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, và khi người buồn, thì tiếng mưa rơi cũng trở thành một tiếng đàn buồn thương, xuyến xao và ngập tràn nỗi nhớ thương.

Bài thơ không dài, không dùng quá nhiều từ ngữ và chi tiết những vẫn đem lại đủ cả hình ảnh và những tâm tư tình cảm của nhân vật trữ tình. Một bài thơ hết sức thành công trong bút pháp nghệ thuật của Bích Khê.