Câu hỏi xoay quanh văn 9 kết nối: bài 3 Tự tình (bài 2)

Câu hỏi xoay quanh môn Ngữ văn 9 kết nối tri thức: Bài 3 Tự tình (bài 2). Phần câu hỏi gồm 4 mức độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng và Vận dụng cao bám sát với chương trình sách giáo khoa. Thông qua các câu hỏi, học sinh có thể ôn luyện kiến thức đã học từ cơ bản đến nâng cao.

Nội dung chi tiết

BÀI 3: HỒN NƯỚC NẰM TRONG TIẾNG MẸ CHA

VĂN BẢN 3: TỰ TÌNH (BÀI 2)
(16 câu)

1. NHẬN BIẾT (5 câu)

Câu 1: Nêu đôi nét về tác giả Hồ Xuân Hương?

Trả lời:

- Hồ Xuân Hương chưa rõ năm sinh, năm mất.

- Theo các tài liệu lưu truyền quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nhưng sống chủ yếu ở kinh thành Thăng Long.

- Cuộc đời Hồ Xuân Hương lận đận, nhiều nỗi éo le ngang trái: hai lần lấy chồng nhưng đề là lẽ, để đến cuối cùng vẫn sống một mình, cô độc.

- Hồ Xuân Hương xinh đẹp, thông minh đi nhiều nơi, giao thiệp với rộng (quen biết nhiều người nổi tiếng như Nguyễn Du).

- Con người bà phóng túng, tài hoa, có cá tính mạnh mẽ, sắc sảo.

- Sáng tác của Hồ Xuân Hương gồm cả chữ Nôm và chữ Hán.

- Theo giới nghiên cứu hiện có khoảng trên dưới 40 bài thơ tương truyền là của Hồ Xuân Hương.

- Nữ sĩ còn có tập thơ Lưu hương ký(phát hiện năm 1964) gồm 24 bài chữ Hán và 26 bài chữ nôm.

- Trong lịch sử văn học Việt Nam, Hồ Xuân Hương là hiện tượng rất độc đáo: nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình, đậm đà chất văn học dân gian từ đề tài, cảm hứng đến ngôn ngữ, hình tượng.

- Nổi bật trong sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương là tiếng nói thương cảm đối với người phụ nữ, là sự khẳng định, đề cao vẻ đẹp và khát vọng của họ.

⇒ Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa Thơ Nôm”.

Câu 2: Xuất xứ của tác phẩm?

Trả lời:

Tự tình (bài II) nằm trong chùm thơ Tự tình gồm ba bài của Hồ Xuân Hương.

Câu 3: Tự tình (II) có thể thơ gì?

Trả lời:

Thất ngôn bát cú Đường luật: thơ gồm có 8 câu, mỗi câu có 7 chữ, tổng số chữ của một bài thơ được viết theo thể Thất ngôn bát cú Đường luật là 56 chữ.

Câu 4: Phương thức biểu đạt của bài thơ?

Trả lời:

Phương thức biểu đạt: Biểu cảm.

Câu 5: Nêu bố cục của bài thơ?

Trả lời:

- Cách 1:

+ Hai câu đề: Giới thiệu về hình ảnh người vợ lẽ.

+ Hai câu thực: Cách giải quyết nỗi tâm tư của người vợ lẽ.

+ Hai câu luận: Khát khao tìm đến hạnh phúc của người phụ nữ.

+ Hai câu kết: Quy luật khắc nghiệt của thời gian và tuổi trẻ.

- Cách 2:

+ Phần 1 (4 câu đầu): thể hiện nỗi lòng cô đơn, buồn tủi, khát vọng hạnh phúc.

+ Phần 2 (4 câu tiếp): Tâm trạng tuyệt vọng của cảnh đời lẽ mọn.

2. THÔNG HIỂU (4 câu)

Câu 1: Theo em hiểu, nhan đề bài thơ Tự Tình có ý nghĩa gì?

Trả lời:

- Tự tình có nghĩa là bộc lộ tâm tình, tâm tình ở đây không phải che đậy hay vay mượn bất cứ cảnh vật nào để bộc lộ. Xuân Hương nói về chính mình, về nỗi cô đơn của kiếp người, nỗi bất hạnh của kiếp má hồng.

- Bài thơ là nỗi tự tình của riêng Xuân Hương nhưng cũng là nỗi đau đáu, bẽ bàng của một lớp phụ nữ bị chèn ép, bị chế độ phong kiến làm cho dang dở, lẻ loi.

Câu 2: Nêu giá trị nội dung của tác phẩm?

Trả lời:

- Tự tình (bài II) thể hiện tâm trạng, thái độ của Hồ Xuân Hương: vừa đau buồn, vừa phẫn uất trước duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch.

- Trước sự trớ trêu của số phận, người phụ nữ luôn khát khao hạnh phúc, vẫn muốn cưỡng lại sự nghiệt ngã do con người tạo ra. Sự phản kháng và khát khao ấy ở Hồ Xuân Hương làm nên ý nghĩa nhân văn sâu sắc cho tác phẩm.

Câu 3: Nêu giá trị nghệ thuật của tác phẩm?

Trả lời:

Ngôn ngữ thơ Nôm bình dị, hình ảnh gợi cảm, giàu màu sắc, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc,...

Câu 4: Nêu nhận xét chung của em về bài thơ tự tình II?

Trả lời:

Tự tình không chỉ là một bài thơ hay, câu từ lạ mắt, mới mẻ, độc đáo, mà bài thơ còn gây ấn tượng mạnh với người đọc bởi tài năng chơi chữ tú vị nhưng vẫn có thể bộc bạch hết nỗi lòng chỉ trong một bài thơ ngắn của bà. Qua đó cũng giúp ta thấy thêm đồng cảm và xót xa cho số phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa. Họ có khao khát, có cuộc sống riêng nhưng lại bị đối xử bất công, bị xã hội giẫm đạp lên quyền tự do không thương tiếc.

3. VẬN DỤNG (5 câu)

Câu 1: Không gian và tâm trạng trong bài thơ?

Trả lời:

- Mở đầu bài thơ gợi ra không gian bao la, mờ mịt.

- Tâm trạng thao thức của người phụ nữ trong đêm dài, lắng nghe tiếng gà gáy.

- Nghệ thuật lấy động để diễn tả cái tĩnh lặng, làm nổi bật tâm trạng "oán hận".

Câu 2: Hình ảnh và âm thanh trong thơ như thế nào?

Trả lời:

- Hai câu thơ thực với hình ảnh “mõ thảm” và “chuông sầu”.

- Phân tích âm thanh “cốc” và “om” thể hiện nỗi đau khổ và sự tủi hờn.

- Câu hỏi tu từ tạo giọng điệu thảm thiết, thể hiện nỗi buồn sâu sắc.

Câu 3: Phân tích hai câu luận của bài thơ?

Trả lời:

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

- Nghệ thuật đảo ngữ, động từ mạnh, đối: Xiên ngang – rêu; đâm toạc – đá → Bức tranh thiên nhiên sinh động, giàu sức sống.

- Hình ảnh thơ: Rêu xiên ngang mặt đất, đá đâm toạc chân mây. → Không chỉ diễn tả sự phẫn uất mà đó còn là sự phản kháng trước số phận hẩm hiu, tình duyên dang dở.

⇒ Ý thức về hạnh phúc, tình duyên.

Câu 4: Lời than vãn của người chinh phụ?

Trả lời:

- Nhắc đến những vần thơ tươi sáng của Hồ Xuân Hương trong quá khứ.

- Nỗi cô đơn và bi kịch tình duyên được thể hiện qua những từ ngữ đầy hình ảnh.

- Phân tích tâm trạng “rầu rĩ”, “giận hờn” về duyên số hẩm hiu.

Câu 5: Sự phản kháng lại số phận của nhân vật trữ tình?

Trả lời:

- Phân tích hai câu kết, thể hiện sự thách đố với số phận.

- Niềm tin vào tài năng và hy vọng tìm kiếm hạnh phúc.

- Sự bướng bỉnh và bản lĩnh của nữ sĩ trước những ngang trái của cuộc đời.

4. VẬN DỤNG CAO (2 câu)

Câu 1: Viết một dàn ý chung nghị luận về bài thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương?

Trả lời:

I. Mở bài

- Giới thiệu về Hồ Xuân Hương: một trong những nữ sĩ tài ba nhất của văn học Trung đại Việt Nam.

- Nêu sự nghiệp sáng tác đồ sộ, đặc biệt là trong thơ chữ Nôm và chữ Hán.

- Giới thiệu bài thơ "Tự Tình" (bài I) như một tác phẩm tiêu biểu thể hiện tiếng nói thương cảm về số phận người phụ nữ.

II. Thân bài

1. Không gian và tâm trạng trong bài thơ

- Mở đầu bài thơ gợi ra không gian bao la, mờ mịt.

- Tâm trạng thao thức của người phụ nữ trong đêm dài, lắng nghe tiếng gà gáy.

- Nghệ thuật lấy động để diễn tả cái tĩnh lặng, làm nổi bật tâm trạng "oán hận".

2. Hình ảnh và âm thanh trong thơ

- Hai câu thơ thực với hình ảnh “mõ thảm” và “chuông sầu”.

- Phân tích âm thanh “cốc” và “om” thể hiện nỗi đau khổ và sự tủi hờn.

- Câu hỏi tu từ tạo giọng điệu thảm thiết, thể hiện nỗi buồn sâu sắc.

3. Lời than tự tình và nỗi cô đơn

- Nhắc đến những vần thơ tươi sáng của Hồ Xuân Hương trong quá khứ.

- Nỗi cô đơn và bi kịch tình duyên được thể hiện qua những từ ngữ đầy hình ảnh.

- Phân tích tâm trạng “rầu rĩ”, “giận hờn” về duyên số hẩm hiu.

4. Tứ thơ lạ và sự bướng bỉnh trước số phận

- Phân tích hai câu kết, thể hiện sự thách đố với số phận.

- Niềm tin vào tài năng và hy vọng tìm kiếm hạnh phúc.

- Sự bướng bỉnh và bản lĩnh của nữ sĩ trước những ngang trái của cuộc đời.

III. Kết bài

- Khẳng định giá trị nhân bản sâu sắc của bài thơ "Tự Tình".

- Nêu lên tiếng than thân trách phận, nỗi buồn cô đơn và khao khát hạnh phúc của người phụ nữ.

- Tác phẩm phản ánh tâm tư, nỗi niềm của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, tạo nên sức hấp dẫn và giá trị lâu bền trong văn học.

Câu 2: Hãy viết bài văn nghị luận phân tích tác phẩm Tư tình

Trả lời:

Hồ Xuân Hương là một trong những nữ sĩ tài ba bậc nhất của văn học Trung đại Việt Nam. Bà để lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ, giàu giá trị trên cả mang thơ chữ Nôm và chữ Hán. Nổi bật trong tác phẩm của bà là tiếng nói thương cảm với số phận người phụ nữ và bài thơ Tự Tình (bài I) là một trong những bài thơ như vậy.

Mở đầu bài thơ, hai cậu đề gợi ra một không gian bao la, mờ mịt từ bom thuyền ở nơi dòng sông đến khắp mọi chòm xóm, thôn làng. Người phụ nữ thao thức suốt những canh dài. Tiếng gà gáy “văng vẳng” trên bom thuyền từ xa đưa tới. Đêm dài chuyển canh, mịt mùng vắng lặng mới nghe thấy tiếng gà gáy “văng vẳng” như thế. Nghệ thuật lấy động (tiếng gà gáy) để diễn tả cái tĩnh lặng vắng vẻ của đêm dài nơi làng quê đã góp phần làm nổi bật tâm trạng "oán hận" của người phụ nữ thao thức suốt những canh trường. Nàng ngồi dậy, lắng tai nghe tiếng gà gáy sang canh, rồi “trông ra" màn đêm mịt mùng. Màn đêm như bủa vây người phụ nữ trong nỗi buồn cô đơn, oán hận:

“Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,

Oán hận trông xa khắp mọi chòm”.

Hai câu thực, tác giả tạo ra hai hình ảnh “mõ thảm" và “chuông sầu" đối nhau, hô ứng nhau, cực tả nỗi đau khổ, sầu tủi của riêng mình đang sống trong cảnh ngộ quá lứa lỡ thì, trắc trở trong tình duyên, vần thơ đầy ám ảnh. Phủ định để khẳng định tiếng "cốc" của “mõ thảm", tiếng “om” của “chuông sầu". Nữ sĩ đã và đang trải qua những đêm dài thao thức và cô đơn, đau cho nỗi đau của đời mình cô đơn như “mõ thảm”, chẳng ai khua “mà cũng cốc”, tủi cho nỗi tủi của riêng mình lẻ bóng chăn đơn như “chuông sầu" chẳng đánh “cớ sao om". Nỗi oán hận, đau buồn sầu tủi như thấm vào đáy dạ, tê tái xót xa, như đang toả rộng trong không gian “khắp mọi chòm", như kéo dài theo thời gian của những đêm dài. “Om” là tiếng tượng thanh, tiếng chuông sầu, cũng là gợi tả nỗi thảm sầu tê tái, đau đớn đến cực độ. Câu hỏi tu từ đã làm cho giọng thơ thảm thiết, xoáy sâu vào lòng người như một lời than, như một tiếng thở dài tự thương mình trong nỗi buồn ngao ngán:

“Mõ thảm không khua mà cũng cốc,

Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om? ”

Có biết thời con gái, Hồ Xuân Hương đã có những vần thơ tươi xinh, phơi phới như “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” (Bánh trôi nước), “Hai hàng chân ngọc duỗi song song” (Đánh đu),... ta mới thấy hết nỗi thảm sầu về bi kịch cô đơn của nữ sĩ được diễn tả tê tái trong hai câu trong phần thực này.

Lời than tự tình trong cô đơn được khơi sâu trong phần luận, để mà “rầu rĩ” thêm, giận hờn thêm cho duyên phận hẩm hiu:

“Trước nghe" đối với “sau giận"; “tiếng" hô ứng với “duyên”-, “rầu rĩ" là tâm trạng đối với “mõm mòm" là trạng thái. "Trước nghe nhưng tiếng...”, là những tiếng gì? - Tiếng của miệng thế? Hay tiếng gà văng vẳng gáy, tiếng “chuông sầu", tiếng "mõ thảm" đáng “ cốc”, đang “om" trong lòng mình? Giữa cảnh khuya thao thức, càng nghe càng thêm “rầu rĩ", buồn tủi. Giữa lúc tàn canh thao thức, càng nghe càng “giận”, càng hờn về tình duyên bẽ bàng. Tình duyên của mình được ví với trái cây, không còn “má hây hây gió" (Xuân Diệu) nữa mà đã chín “mõm mòm", nghĩa là quá chín, đã nẫu đi! “Duyên mõm mòm" là duyên phận hẩm hiu, quá lứa lỡ thì! Trong câu thơ như có nhiều lệ, nhiều tiếng thở dài, vừa than thân trách phận, vừa buồn tủi về con đường tình duyên. Tiếng thơ tự tình của Hồ Xuân Hương là lời than tự thương mình, đồng thời thương cho những người đàn bà cùng cảnh ngộ đã luống tuổi mà vẫn cô đơn lẻ bóng: “Giật mình mình lại thương mình xót xa" (Truyện Kiều)

Phần kết xuất hiện một tứ thơ rất lạ. Như một sự thách đố với số phận, với duyên số. Nữ sĩ vẫn bướng bỉnh trước bi kịch cô đơn của mình khi “duyên để mõm mòm" rồi:

“Tài tử văn nhân ai đó tá!

Thân này đâu đã chịu già tom!"

Vừa nghi vấn, vừa cảm thán, hai câu kết đầy nghịch lí. Nữ sĩ như vẫn còn tin vào tài năng của mình có thể làm xoay chuyển được duyên phận, vẫn hi vọng tìm được bạn đời trăm năm trong đám tài tử văn nhân. Câu 6 nữ sĩ viết: “Sau giận vì duyên để mõm mòm", câu 8 bà lại viết: “Thân này đâu đã chịu già tom!”. “Già tom” nghĩa là rất già, già hẳn! Đó là một cách “nói cứng” thể hiện một thái độ “bướng bỉnh”, một bản lĩnh cứng cỏi trước ngang trái cuộc đời. Đọc chùm thơ “Tự tình” cũng như tìm hiểu cuộc đời của nữ sĩ, về mặt tình duyên, ta thấy hạnh phúc tình yêu chưa một lần mỉm cười với Xuân Hương. Bài thơ “Cảm cựu kiêm trình cần chánh học sĩ Nguyên Hầu" (Nhớ người cũ, viết gửi cần chánh học sĩ Nguyễn Du - tước hầu) như một bóng quang âm soi tỏ một “mảnh tình riêng” của “bà chúa thơ Nôm", giúp ta cảm nhận bài thơ “Tự tình" này:

“Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,

Mượn ai tới đấy gởi cho cùng.

Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,

Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.

Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,

Phấn son cùng tủi phận long đong.

Biết còn mảy chút sương siu mấy,

Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong "

Bài thơ “Tự tình" gieo vần “om”, 5 vần thơ, vần nào cũng hóc hiểm, tài tình: "bom-chòm-tìm-mòm-tom". Những vần thơ hóc hiểm ấy, một mặt thể hiện bút pháp điêu luyện, mặt khác đã tạo nên nhạc điệu, âm điệu như thắt, như nén lại cái “oán", cái “hận”, cái “ngang bướng” của một tâm trạng; một cá tính rất Xuân Hương. Duyên số và hạnh phúc tình yêu của người phụ nữ là nội dung đầy ám ảnh đối với mỗi chúng ta khi đọc bài thơ “Tự tình" này của Xuân Hương. “Tự tình" là tiếng than thân trách phận cho nỗi buồn cô đơn, về bi kịch tình yêu, là niềm khao khát hạnh phúc của người phụ nữ. Vì lẽ đó, “Tự tình" mang giá trị nhân bản sâu sắc.