Câu hỏi xoay quanh văn 9 kết nối: bài 4 Ngày xưa
Câu hỏi xoay quanh môn Ngữ văn 9 kết nối tri thức: Bài 4 Ngày xưa. Phần câu hỏi gồm 4 mức độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng và Vận dụng cao bám sát với chương trình sách giáo khoa. Thông qua các câu hỏi, học sinh có thể ôn luyện kiến thức đã học từ cơ bản đến nâng cao.
Nội dung chi tiết
BÀI 4: KHÁM PHÁ VẺ ĐẸP VĂN CHƯƠNG
VĂN BẢN 3: NGÀY XƯA
(15 câu)
1. NHẬN BIẾT (5 câu)
Câu 1: Tìm hiểu đôi nét về tác giả Vũ Cao?
Trả lời:
- Vũ Cao (1922 – 2007) quê ở Nam Định, từng tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
- Thơ ông thường viết về đề tài kháng chiến và những tình cảm cách mạng, ngôn ngữ và hình ảnh thơ trẻ trung, tươi mới và giàu cảm xúc.
- Tác phẩm tiêu biểu: Núi đôi (1956), Đèo trúc (1973), Từ một trận địa (1973),...
Câu 2: Thể loại của tác phẩm?
Trả lời:
- Văn bản Ngày xưa thuộc thể loại văn bản thơ lục bát.
Câu 3: Hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ của tác phẩm?
Trả lời:
- In trong Thơ với tuổi thơ, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2001.
Câu 4: Bố cục của tác phẩm?
Trả lời:
- Phần 1 (từ đầu đến “mẹ ơi”): lời ru của bà.
- Phần 2 (đoạn còn lại): nỗi lòng, tình cảm của người con dành cho mẹ.
Câu 5: Phương thức biểu đạt của tác phẩm là gì?
Trả lời:
- Phương thức biểu đạt: biểu cảm.
2. THÔNG HIỂU (5 câu)
Câu 1: Nêu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm?
Trả lời:
* Giá trị nội dung Ngày xưa:
- Bài thơ nói về lời ru của người bà dành cho đứa cháu bé bỏng của mình, qua đó thể hiện tình cảm, sự yêu thương gửi gắm qua từng lời ru.
* Giá trị nghệ thuật Ngày xưa:
- Ngôn từ, hình ảnh giản dị, gần gũi.
Câu 2: Bài thơ có ý nghĩa gì?
Trả lời:
- Dù người cháu không hiểu ý nghĩa trong đó nhưng đó vẫn là lời ru quen thuộc không thể thay thế => tình cảm trìu mến, yêu thương gửi qua những lời hát ru.
Câu 3: Bài thơ Ngày xưa liên hệ với truyện Kiều như thế nào?
Trả lời:
- Tác phẩm Truyện Kiều đã có thể tồn tại và phát triển bền bỉ trong văn học Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác truyền cảm hứng cho những người yêu Truyện Kiều sáng tạo ra các hình thức sinh hoạt văn hóa như ngâm Kiều, vịnh Kiều, đố Kiều, dựa vào câu Kiều để sáng tác thơ mới, tranh Kiều trên nhiều chất liệu. Nhiều câu thơ trong tác phẩm đã được vận dụng nghệ thuật dân gian và trở nên phổ biến, quen thuộc.
=> Trải qua hai thế kỷ với những thăng trầm của lịch sử, Truyện Kiều vẫn có sức sống mãnh liệt trong đời sống của người Việt Nam, bởi nó không chỉ là câu chuyện của văn học Việt Nam mà còn là tâm tư, bản ngã của người Việt Nam.
Câu 4: Theo em truyện Kiều có vai trò gì trong cuộc sống tinh thần, văn hóa của dân tộc ta?
Trả lời:
Tác phẩm Truyện Kiều đã tồn tại và phát triển mạnh mẽ trong nền văn học Việt Nam qua nhiều thế hệ, truyền cảm hứng cho những người yêu mến tác phẩm này sáng tạo ra các hoạt động văn hóa như ngâm Kiều, vịnh Kiều, đố Kiều, và từ đó viết nên những bài thơ mới hoặc tạo ra tranh Kiều trên nhiều chất liệu khác nhau. Nhiều câu thơ trong tác phẩm đã được áp dụng vào nghệ thuật dân gian và trở nên quen thuộc với mọi người. => Sau hai thế kỷ, mặc dù trải qua nhiều biến động của lịch sử, Truyện Kiều vẫn giữ được sức sống mạnh mẽ trong đời sống văn hóa của người Việt Nam, vì nó không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn phản ánh tâm tư và bản sắc của người Việt.
3. VẬN DỤNG (3 câu)
Câu 1: Tinh thần dân tộc, giá trị văn hóa nào được biểu hiện trong truyện Kiều?
Trả lời:
Với ''Truyện Kiều,'' Nguyễn Du đã chắt lọc những phần tinh tú nhất trong lời ăn, tiếng nói của nhân dân, đặc biệt là ngôn ngữ văn học dân gian, thông qua việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo và dày đặc các khẩu ngữ, ngoa ngữ, thành ngữ, ca dao, tục ngữ và một số thành ngữ Hán Việt đã được "thuần Việt". Ngược lại, quần chúng nhân dân đã vay mượn ngôn ngữ và các nhân vật của tác phẩm này để xây dựng thêm nhiều câu thành ngữ, ca dao và dân ca mới để biểu đạt những sắc thái tình cảm phong phú trong cuộc sống thường nhật của mình. Không ai có thể phủ nhận được rằng, tiếng Việt trở nên giàu có, phong phú, tinh túy và đặc sắc hơn, văn chương Việt Nam được bạn bè thế giới biết đến nhiều hơn một phần là nhờ ''Truyện Kiều.''
Câu 2: Về mặt nghệ thuật truyện Kiều có những thành tựu nào?
Trả lời:
Đứng về mặt nghệ thuật, cho đến nay ''Truyện Kiều'' vẫn là hòn ngọc sáng nhất và là đỉnh cao chói lọi nhất của tiếng nói Việt Nam, của văn học dân tộc. Thiên tuyệt bút này của Nguyễn Du là sự kết tinh tinh hoa của cả quá trình mấy trăm năm hình thành và phát triển nền văn học cổ điển viết bằng ngôn ngữ dân tộc. ''Truyện Kiều'' cũng được xem là hòn đá tảng, đặt nền móng cho sự phát triển của nghệ thuật văn học dân tộc sau này.
4. VẬN DỤNG CAO (2 câu)
Câu 1: Viết dàn ý phân tích tác phẩm Ngày xưa của Vũ Cao?
Trả lời:
I. Mở bài
Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Nhà thơ Vũ Cao trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Chủ đề trong các tác phẩm của ông là con người Việt Nam.
- Bài thơ “Ngày xưa” nói về sự thương cảm nhân vật Thúy Kiều trong tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.
II. Thân bài
- Bối cảnh bài thơ là người bà ru cháu ngủ bằng lời thơ trong Truyện Kiều, thể hiện sự sáng tạo của tác giả trong cách đặt vấn đề.
- Tác giả sử dụng hai đoạn trích Truyện Kiều là tâm sự trái ngược của hai người đang yêu: Kim Trọng nhớ nhung, lạc quan; Thúy Kiều đau buồn, tuyệt vọng. Qua đó cho thấy bi kịch của đôi lứa yêu nhau trong thời đại cũ.
- Chi tiết đứa bé ngủ ngon lành thể hiện tình cảm giữa người với người là điều có thể cảm nhận được và không phân biệt thế hệ.
- Sử dụng thể thơ lục bát phù hợp để diễn tả tình cảm.
- Bài thơ xót thương số phận người phụ nữ và mong ước một xã hội tươi sáng.
III. Kết luận
- Bài thơ khẳng định sức sống trường tồn của Truyện Kiều.
- Khẳng định những giá trị đạo đức và tình người luôn tồn tại.
Câu 2: Viết bài văn phân tích tác phẩm Ngày xưa của Vũ Cao
Trả lời:
Vũ Cao là nhà thơ – nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong các tác phẩm của ông, hình ảnh con người Việt Nam hiện lên thật anh dũng, kiên trung, nhưng đồng thời cũng mang một tâm hồn sâu sắc, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào và lòng trắc ẩn cho những thân phận không may. Trong đó, bài thơ “Ngày xưa” là câu chuyện về sự thương cảm của người phụ nữ đối với nhân vật Kiều trong tác phẩm cùng tên nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn Du.
Bài thơ mở đầu với khung cảnh người bà ru cháu ngủ bằng những lời thơ trong truyện Kiều:
“Mẹ tôi ru cháu chiều chiều
Thường là ru mấy câu Kiều cháu nghe”
Thông thường khi ru trẻ thơ ngủ, người lớn sẽ dùng lời hát được lấy từ ca dao, các điệu hò dân gian, nhưng ở đây người bà lại ru bằng thơ, mà lại là Truyện Kiều. Điều này cho thấy sự sáng tạo của tác giả trong cách sử dụng chất liệu để đặt vấn đề, cũng như ý tưởng vận dụng Truyện Kiều rất độc đáo. Ông để Truyện Kiều – nhân vật chính của bài thơ – xuất hiện trong hoàn cảnh đặc biệt, đó là trong lời ru của người bà. Với cách đặt để đối tượng khác biệt này, ông đã đem đến cảm xúc sự mới lạ thú vị cho người đọc chỉ qua hai câu thơ đầu tiên.
Ở đoạn giữa bài, tác giả sử dụng hai trích đoạn trong tác phẩm của Nguyễn Du:
“Mây Tần khóa kín song the
Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao”
Đây là phân đoạn Kim Trọng nghĩ về Thúy Kiều, diễn tả tâm trạng tương tư khắc khoải nhung nhớ người thương.
Đoạn trích thứ hai thuộc phân đoạn Thúy Kiều ủy thác mối tình của mình cho em gái Thúy Vân trong đêm nàng quyết định bán mình cứu cha, lời dặn dò nhắc đến kỷ niệm hạnh phúc của nàng và Kim Trọng đã từng thề nguyền truyện trăm năm. Nay Thúy Kiều chỉ có thể nhớ lại với nỗi xót xa:
“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này...”
Các trích đoạn là tâm trạng tương phản của những người đang yêu. Nếu đoạn đầu là nỗi tương tư mong nhớ và tràn đầy lạc quan của người con trai thì ở đoạn sau lại là sự đau đớn tuyệt vọng của người con gái. Nỗi niềm trái ngược ở hai giai đoạn khi mới yêu và khi sắp phải chia xa khiến người đọc bùi ngùi thương cảm.
Bi kịch lớn nhất trong tình yêu là những người yêu nhau lại không đến được với nhau. Nhà thơ Nguyễn Du đã xây dựng một tình yêu trong sáng thanh khiết giữa hai con người xứng đôi vừa lứa “trai anh hùng gái thuyền quyên” nhưng phải chấp nhận xa cách bởi hiện thực tàn khốc đầy rẫy những bất công, thối nát.
Trước câu chuyện về cuộc đời long đong đầy thăng trầm của nàng Kiều tài hoa bạc mệnh, người bà sống hơn nửa đời người cũng phải ngậm ngùi cảm thán:
“Bâng khuâng mẹ nói một điều:
- Nghĩ mà thương phận cô Kiều ngày xưa”
Đây là sự đồng cảm thấu hiểu giữa những người phụ nữ. Trong chế độ phong kiến suy đồi với bộ máy quan lại mục ruỗng, với những con người vô đạo đức, với những định kiến cay nghiệt, với tư tưởng trọng nam khinh nữ đè nặng ấy, họ không được làm chủ cuộc đời mình. Đó là một thời đại mà việc mưu cầu hạnh phúc là một điều quá xa xỉ đối với người phụ nữ.
Dẫu chưa nhận thức được nhưng có lẽ sự thương cảm của người bà đã chạm đến trái tim đứa trẻ, đứa bé “lại ngon giấc ngủ thơ ngây chiều chiều” trong những lời ru của bà. Với chi tiết này, tác giả cho thấy tình thương là điều ai cũng có thể cảm nhận được, như người ta nói điều gì xuất phát từ trái tim thì sẽ chạm được đến trái tim. Tình thương, lòng trắc ẩn chính là những giá trị cốt lõi tốt đẹp của con người sẽ được lưu truyền và là sợi dây liên kết các thế hệ dân tộc với nhau.
Hình ảnh đứa bé ngủ ngon trong lời ru truyện Kiều khiến ta liên tưởng đến câu thơ nổi tiếng của Tố Hữu về tác phẩm kinh điển này:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”
Lời ru luôn gắn liền với những tâm tình, ước mong của người bà, người mẹ. Đó cũng là tiếng lòng của Nguyễn Du và cả Vũ Cao xót thương cho số phận người phụ nữ trong chế độ xưa và mong ước về một xã hội tươi sáng, công bằng.
Tác giả đã sử dụng thể thơ lục bát để phù hợp với những câu trích từ Truyện Kiều vốn viết theo thể lục bát, vô hình chung điều này lại khiến cho cả bài thơ có vần điệu ngân nga tựa như lời hát ru thực thụ. Bên cạnh đó, đây còn là thể thơ hiệu quả để biểu đạt ý tình bởi cách gieo vần, phối thanh, cách ngắt nhịp đặc trưng khiến nhịp điệu bài thơ mang lại cảm giác êm đềm dạt dào tình cảm.
Tác phẩm Truyện Kiều của nhà thơ Nguyễn Du không chỉ là một tượng đài trong lịch sử văn học Việt Nam mà còn là nguồn cảm hứng của nhiều nhà thơ khác. Nguyễn Du từng tự vấn “Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa. Người đời ai khóc Tố Như chăng?”, qua bài thơ Ngày xưa, tác giả Vũ Cao đã khẳng định Nguyễn Du, Truyện Kiều và nhân vật Thúy Kiều của đại thi hào sẽ luôn trường tồn dù trải qua biết bao thế hệ. Bởi lẽ xã hội phong kiến lạc hậu nhưng tình người thì không bao giờ lỗi thời.
Tài liệu cùng môn học
- Trắc nghiệm văn 9 kết nối tri thức
- Giáo án word văn 9 kết nối tri thức
- Giáo án ppt văn 9 kết nối tri thức
- Giáo án word dạy thêm văn 9 kết nối tri thức
- Giáo án ppt dạy thêm văn 9 kết nối tri thức
- Soạn văn 9 kết nối tri thức
- Phiếu bài tập văn 9 kết nối tri thức
- Lý thuyết văn 9 kết nối tri thức
- Soạn ngắn văn 9 kết nối tri thức
- Câu hỏi xoay quanh Ngữ văn 9 kết nối tri thức
- Văn mẫu 9 kết nối tri thức
- Đề thi ngữ văn 9 kết nối tri thức
- Ppt trò chơi AI Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
- Tóm tắt tác phẩm văn 9 kết nối tri thức
- Video AI mở đầu Ngữ văn 9 kết nối tri thức
Tài liệu khác
- Trắc nghiệm văn 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm địa lí 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm KHTN 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm công dân 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm lịch sử 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm toán 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm tin học 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm âm nhạc 9 kết nối tri thức
- => Xem nhiều môn hơn