Câu hỏi xoay quanh văn 9 kết nối: bài Ôn tập học kì I

Câu hỏi xoay quanh môn Ngữ văn 9 kết nối tri thức: Bài Ôn tập học kì I. Phần câu hỏi gồm 4 mức độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng và Vận dụng cao bám sát với chương trình sách giáo khoa. Thông qua các câu hỏi, học sinh có thể ôn luyện kiến thức đã học từ cơ bản đến nâng cao.

Nội dung chi tiết

ÔN TẬP CUỐI KÌ I
(13 câu)

1. NHẬN BIẾT (5 câu)

Câu 1: Truyện truyền kì là gì?

Trả lời:

- Truyện truyền kì là thể loại văn xuôi tự sự, phát triển mạnh mẽ từ thời trung đại, dùng yếu tố kì ảo làm phương thức nghệ thuật để phản ánh cuộc sống. Truyện truyền kì thuộc bộ phận văn học viết, tuy nhiên, trong quá trình sáng tạo, các tác giả cũng sử dụng nhiều yếu tố của văn học dân gian.

- Trong mỗi truyện truyền kì, yếu tố kì ảo và yếu tố hiện thực kết hợp, đan xen một cách linh hoạt. Qua những chi tiết kì ảo, người đọc có thể nhận thấy những vấn đề cốt lõi của hiện thực cũng như quan niệm và thái độ của tác giả.

Câu 2: Yếu tố kì ảo có tác dụng gì trong truyện dân gian Việt Nam?

Trả lời:

- Khơi gợi trí tưởng tượng: Các yếu tố kì ảo giúp kích thích trí tưởng tượng của người đọc, tạo ra những khung cảnh, nhân vật và tình huống đặc biệt mà thực tế khó có thể xảy ra.

- Giáo dục và truyền tải giá trị văn hóa: Những câu chuyện có yếu tố kì ảo thường chứa đựng những bài học cuộc sống, giá trị đạo đức và văn hóa truyền thống của dân tộc, giúp người nghe nhận thức rõ hơn về các quy tắc xã hội.

- Mang tính giải trí: Các yếu tố kì ảo thường mang lại sự thú vị, hấp dẫn cho câu chuyện, giúp người nghe cảm thấy thích thú và không nhàm chán.

- Phản ánh tâm lý và niềm tin dân gian: Những yếu tố kì ảo thể hiện niềm tin vào thế giới tâm linh, ma quái hay những thế lực siêu nhiên, phản ánh quan điểm và tâm tư của người dân trong một giai đoạn lịch sử nhất định.

- Tạo dựng xung đột và kịch tính: Yếu tố kì ảo thường tạo ra những cuộc đối đầu giữa các nhân vật với thế giới siêu nhiên, gây ra xung đột và kịch tính, làm câu chuyện trở nên hấp dẫn hơn.

- Khám phá bản thân và mối quan hệ con người: Trong nhiều câu chuyện, các yếu tố kì ảo giúp nhân vật khám phá bản thân, tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống và mối quan hệ với người khác.

Câu 3: Nêu khái niệm và ví dụ về biện pháp tu từ chơi chữ?

Trả lời:

- Chơi chữ là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,...làm câu văn hấp dẫn và thú vị.

Ví dụ:

Thầy giáo, tháo giày đi dép lốp

Đuối như trái chuối

Sành điệu như củ kiệu

Tôi yêu Việt Nam "đồng"

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc/ Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Câu 4: Thống kê tên các tác phẩm, tác giả, nội dung, đặc điểm hình thức của các tác phẩm thơ?

Trả lời:

Tác phẩm

Tác giả

Nội dung

Đặc điểm hình thức

Sơn Tinh -Thủy Tinh

Nguyễn Nhược Pháp

- Bài thơ đã tái hiện lại cuộc giao tranh giành Mỵ Nương của Sơn Tinh và Thủy Tinh. Từ đó cho thấy tình yêu của thần cũng giống con người, cũng yêu và trải qua những ghen tuông, thất bại trong tình yêu. Và cũng qua đó lý giải hiện tượng bão lũ hàng năm của tự nhiên.

- Ngôn từ hấp dẫn, cách miêu tả sinh động.

- Xây dựng hình tượng nhân vật dáng dấp thần linh, với nhiều chi tiết hoang đường, kì ảo.

- Cách kể chuyện qua những vần thơ đầy lôi cuốn, hấp dẫn.

Nỗi niềm chinh phụ

Đặng Trần Côn

Nỗi niềm người chinh phụ có chồng đi chinh chiến

Được viết theo thể thơ song thất lục bát

Tiếng Đàn Mưa

Bích Khê

Nỗi nhớ quê hương của người con xa xứ

Thể thơ 5 chữ giàu chất gợi hình, gợi tả.

Kim Kiều gặp gỡ

Nguyễn Du

Cuộc gặp gỡ giữa Kim Trọng và Thúy Kiều

- Nghệ thuật xây dựng tâm lí nhân vật,.

- Thể thơ lục bát

- Ngôn ngữ đối thoại và độc thoại bằng phương pháp tả cảnh ngụ tình đã làm nên giá trị của đoạn

Lục Vân Tiên đánh cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga

Nguyễn Đình Chiểu

Lục Vân Tiên gặp một toán cướp ức hiếp một cô gái nhà lành và sự nghĩa hiệp của chàng

Truyện thơ Nôm

Tự Tình

Hồ Xuân Hương

Nỗi cô đơn sầu tủi của cô gái.

Thể thơ Thất ngôn bát cú

Câu 5: So sánh giữa truyện truyền kì và truyện thơ Nôm?

Trả lời:

Tiêu chí

Truyện truyền kì

Truyện thơ Nôm

Chữ viết

Chữ Hán

Chữ Nôm

Nhân vật

Nhân vật có thể là con người hay thần linh, ma, quỷ,... Nếu nhân vật là con người, họ thường có nét đặc biệt nào đó; nếu nhân vật là thần linh, ma, quỷ, họ thường mang hình ảnh, tính cách của con người.

Nhân vật của truyện thơ Nôm thường chia thành hại tuyến: nhân vật chính diện (đại diện cho cái tốt, cái đẹp, tiến bộ) và nhân vật phản diện (đại diện cho cái xấu, cái ác, bảo thủ).

Ngôn ngữ

- Giàu hình ảnh, biểu cảm.

- Sử dụng nhiều điển tích, thành ngữ.

- Giọng văn trang trọng, thể hiện tính chất nghiêm túc của tác phẩm.

- Giàu tính nhạc điệu, sử dụng nhiều biện pháp tu từ.

- Giọng văn đa dạng, phù hợp với nội dung và tính cách nhân vật.

2. THÔNG HIỂU (4 câu)

Câu 1: Liệt kê 6 kiến thức em đã học về thực hành tiếng việt vào mẫu bảng sau?

Trả lời:

Kiến thức tiếng Việt

Khái niệm cần nắm

Điển tích điển cố

Một điển tích, điển cố xuất hiện trong văn bản chỉ là từ ngữ. Nhưng đằng sau từ ngữ là một câu chuyện hay sự việc, câu kinh, câu thơ nào đó.

Một số yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn và cách phân biệt

Các yếu tố Hán Việt đồng âm và gần âm. Cách phân biệt: Dựa vào suy luận và tra cứu từ điển.

Biện pháp chơi chữ

Biện pháp tu từ chơi chữ, dùng từ đồng nghĩa, gần âm hoặc cùng trường nghĩa

Biện pháp tu từ điệp thanh và điệp vần

- Điệp thanh có thể được tạo nên bằng cách sử dụng lặp lại một loạt âm tiết có cùng thanh điệu

- Điệp vần trong thơ có thể xuất hiện ở vị trí các âm tiết gieo vần: âm tiết cuối cùng của câu thơ (vần chân) hoặc âm tiết nằm ở khoảng giữa câu thơ (vần lưng), tạo tính liên kết, tính nhạc cho câu thơ. Ở một số bài thơ, việc gieo vần tạo được ấn tượng hoặc cảm xúc đặc biệt, có hiệu quả tu từ rõ nét, đó chính là điệp vần.

Dẫn trực tiếp và

gián tiếp

Dẫn trực tiếp sử dụng ngoặc kép, còn dẫn gián tiếp thì không.

Sử dụng tư liệu tham khảo và trích dẫn

Khi viết, ta thường tham khảo tài liệu từ các nguồn khác nhau để có thể tiếp cận vấn đề một cách toàn diện, sâu sắc hơn.

Câu 2: So sánh giữa câu rút gọn và câu đặc biệt?

Trả lời:

Câu đặc biệt

Câu rút gọn

Giống nhau

  • Đều là loại câu có sự bất thường về cấu trúc.
  • Có cấu tạo là một từ hoặc một cụm từ.
  • Ngắn gọn, cô đọng, súc tích.

Khác nhau

  • Câu đặc biệt là câu không có cấu tạo theo mô hình chủ ngữ và vị ngữ.

  • Câu rút gọn là câu đơn có đủ thành phần chủ ngữ và vị ngữ nhưng khi sử dụng người ta lược bỏ đi một số thành phần như chủ ngữ, vị ngữ hoặc lược bỏ cả chủ ngữ và vị ngữ.

  • Từ hoặc cụm từ trong câu đặc biệt làm trung tâm cú pháp của câu không thể xác định được từ hoặc cụm từ đó làm thành phần nào trong câu.

  • Dựa vào hoàn cảnh, có thể xác định được từ hoặc cụm từ bị rút gọn là thành phần gì trong câu.

  • Câu đặc biệt không thể khôi phục thành phần câu như chủ ngữ - vị ngữ.
  • Câu rút gọn có thể khôi phục lại thành phần đã bị lược bỏ trong câu thành câu hoàn chỉnh, đầy đủ.

Câu 3: Hãy liệt kê 5 loại tài liệu tham khảo thường dùng trong học tập và mô tả ngắn gọn về từng loại.

Trả lời:

- Sách giáo khoa: Là tài liệu được biên soạn theo chương trình học, cung cấp kiến thức cơ bản và hệ thống cho học sinh. Sách giáo khoa thường được sử dụng trong lớp học và là nguồn tài liệu chính cho việc học.

- Tài liệu nghiên cứu: Là các bài báo, luận văn, luận án được công bố trên các tạp chí khoa học. Tài liệu này cung cấp thông tin chuyên sâu và cập nhật về các lĩnh vực nghiên cứu, giúp học sinh nắm bắt các xu hướng mới.

- Từ điển: Là công cụ tra cứu từ vựng, nghĩa của từ, cách sử dụng từ trong ngữ cảnh. Từ điển giúp học sinh mở rộng vốn từ và cải thiện kỹ năng ngôn ngữ.

- Tài liệu điện tử: Bao gồm các bài viết, video, khóa học trực tuyến và các nguồn thông tin trên internet. Tài liệu điện tử giúp học sinh dễ dàng tiếp cận thông tin và học tập linh hoạt.

- Báo chí: Là các bài viết trên báo, tạp chí, cung cấp thông tin thời sự và phân tích các vấn đề xã hội. Tài liệu này giúp học sinh cập nhật thông tin mới và có cái nhìn đa chiều về các sự kiện.

Câu 4: So sánh sự khác biệt giữa chữ Quốc ngữ và chữ Hán trong việc thể hiện ngôn ngữ Việt?

Trả lời:

Chữ Quốc ngữ

Chữ Hán

Cấu trúc và hình thành

Dựa trên bảng chữ cái Latinh với 29 chữ cái, sử dụng dấu thanh để thể hiện âm điệu. Ví dụ: "tôi", "có", "mẹ".

Là hệ thống chữ viết biểu ý, mỗi ký tự thường mang một nghĩa nhất định và có thể có nhiều cách phát âm. Ví dụ, chữ "母" (mẫu) có nghĩa là mẹ, nhưng không thể hiện âm điệu.

Phản ánh ngữ âm

Phản ánh chính xác âm vị và thanh điệu của tiếng Việt, giúp người đọc dễ dàng phát âm đúng. Ví dụ: "bà", "bá", "bả" có nghĩa khác nhau dựa vào thanh điệu.

Không thể hiện âm điệu, nên người học phải nhớ cách phát âm và nghĩa của từng chữ riêng biệt.

Khả năng mở rộng

Dễ dàng tiếp nhận từ mới, đặc biệt là từ nước ngoài, nhờ vào tính linh hoạt của bảng chữ cái. Ví dụ: "internet", "computer".

Khó khăn trong việc tiếp nhận từ mới, vì phải tạo ra ký tự mới hoặc sử dụng ký tự hiện có với nghĩa mới.

3. VẬN DỤNG (2 câu)

Câu 1: Nêu những đặc điểm nhận biết về nghị luận xã hội và nghị luận văn học?

Trả lời:

Để phân biệt nghị luận xã hội và nghị luận văn học chúng ta sẽ xem xét trên cơ sở bằng chứng và lí lẽ của từng dạng, cụ thể như sau:

Tiêu chí

Nghị luận xã hội

Nghị luận văn học

Lí lẽ

- Dựa trên các lập luận logic, chặt chẽ.

- Sử dụng các kiến thức về xã hội, đời sống, khoa học...

- Dựa trên các phân tích, lý giải về tác phẩm văn học.

- Sử dụng các kiến thức về văn học, nghệ thuật...

Bằng chứng

- Sử dụng các dẫn chứng cụ thể, xác thực như:

- Số liệu thống kê.

- Ví dụ thực tế.

- Phát biểu của các chuyên gia...

- Sử dụng các dẫn chứng cụ thể, sinh động như:

+ Trích dẫn từ tác phẩm.

+ Phân tích chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ...

Câu 2: Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về hình tượng người phụ nữ ngày xưa?

Trả lời:

Phụ nữ là một nửa của thế giới, mang một vai trò vô cùng quan trọng. Khi xã hội bước vào thời kỳ hiện đại, đã có những sự thay đổi vô cùng ngoạn mục về mọi mặt, và thân phận người phụ nữ cũng vậy. Sự thay đổi đầu tiên mà chúng ta có thể đơn giản thấy được đó là từ kiểu tóc, quần áo, trang sức...của người phụ nữ hiện đại vô cùng đẹp và bắt mắt hơn nhiều, phóng khoáng hơn. Điều đó nhờ vào việc sự phát triển của kinh tế, xã hội, tư duy con người đã tiên tiến hơn nhiều. Thân phận người phụ nữ thì lại là sự thay đổi lớn nhất. Thay vì không được đi học, ở nhà chăm con, làm việc nhà và phụ thuộc vào chồng, tiếng nói không có một chút giá trị như thời phong kiến thì giờ đây họ cũng đã được đi học, lao động, cống hiến xây dựng xã hội ngang bằng nam giới. Họ cũng có những tiếng nói và địa vị nhất định trong xã hội. Đây là một sự phát triển mạnh mẽ về bình đẳng giới trong xã hội hiện đại. Ngay giờ đây, phụ nữ đã có thể tùy ý làm những điều mình thích, thể hiện những gì mình muốn, thực hiện ước mơ và khát vọng của chính mình. Trái ngược hẳn lại với ngày nay, thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến trước kia luôn phải chịu sự chà đẹp mạnh mẽ cả về vật chất lẫn tinh thần. Họ luôn phải chịu một sự tủi nhục, vùi dập của những thế lực phong kiến, nhất là thế lực địa vị và tiền bạc. Họ sinh ra tuy trong hình hài của con người nhưng không được tự quyết một điều gì, luôn phải phó mặc số phận của mình cho người khác. Hình ảnh Thúy Kiều của Nguyễn Du đã phản ánh rất rõ điều đó, tuy nàng tài sắc vẹn toàn nhưng nhà lại nghèo, phải hy sinh đi tình yêu đậm sâu của mình để bán mình chuộc cha, chịu cảnh sống không bằng chết. Trải qua bao nhiêu năm phát triển, thân phận người phụ nữ đã được cải thiện vô cùng, em rất biết ơn khi được sinh ra trong thời kỳ bình đẳng giới được đề cao.

4. VẬN DỤNG CAO (2 câu)

Câu 1: Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội mà em quan tâm?

Trả lời:

Sự nóng lên toàn cầu là một trong những thách thức lớn nhất mà nhân loại đang phải đối mặt. Hiện tượng này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn tác động sâu sắc đến đời sống con người và sự phát triển bền vững của xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận thức và hành động để đối phó với sự nóng lên toàn cầu trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Sự nóng lên toàn cầu được định nghĩa là hiện tượng nhiệt độ trung bình của Trái Đất tăng lên do hiệu ứng nhà kính. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng này bao gồm hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, sử dụng nhiên liệu hóa thạch, và việc phá rừng, khai thác tài nguyên thiên nhiên. Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, nồng độ khí CO2 trong khí quyển đã tăng lên mức cao nhất trong 3 triệu năm qua, chủ yếu do hoạt động của con người.

Hệ quả của sự nóng lên toàn cầu rất nghiêm trọng và đa dạng. Đầu tiên, biến đổi khí hậu là một trong những hậu quả rõ rệt nhất. Chúng ta đã chứng kiến sự gia tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt và hạn hán. Ví dụ, cơn bão Harvey vào năm 2017 đã gây ra thiệt hại lên đến 125 tỷ USD cho Mỹ, trong khi lũ lụt ở Pakistan vào năm 2022 đã khiến hàng triệu người mất nhà cửa.

Ngoài ra, sự nóng lên toàn cầu cũng gây ra thay đổi hệ sinh thái và mất đa dạng sinh học. Nhiều loài động thực vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do môi trường sống của chúng bị thay đổi hoặc bị phá hủy. Theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), khoảng 1 triệu loài đang có nguy cơ tuyệt chủng trong thời gian tới.

Tác động đến con người cũng rất nghiêm trọng. Nguy cơ sức khỏe gia tăng do ô nhiễm không khí và dịch bệnh. Các nghiên cứu cho thấy, ô nhiễm không khí gây ra khoảng 7 triệu ca tử vong mỗi năm trên toàn cầu. Sự nóng lên cũng ảnh hưởng đến nông nghiệp và an ninh lương thực, làm giảm năng suất cây trồng và gây ra tình trạng thiếu đói. Hơn nữa, di cư và xung đột do tài nguyên khan hiếm cũng ngày càng trở nên phổ biến, như cuộc khủng hoảng di cư ở Syria, một phần do hạn hán kéo dài.

Để đối phó với sự nóng lên toàn cầu, cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Đầu tiên, giảm phát thải khí nhà kính là một trong những biện pháp quan trọng nhất. Chúng ta cần khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời và gió. Nhiều quốc gia như Đức và Thụy Điển đã thành công trong việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, giảm đáng kể lượng khí thải carbon.

Thứ hai, bảo vệ và phục hồi môi trường cũng rất cần thiết. Việc trồng cây và bảo vệ rừng không chỉ giúp hấp thụ CO2 mà còn duy trì đa dạng sinh học. Chương trình REDD+ (Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng) của Liên Hợp Quốc là một ví dụ điển hình về việc bảo vệ rừng.

Cuối cùng, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường là điều không thể thiếu. Giáo dục về môi trường cần được tích hợp vào chương trình học từ bậc tiểu học đến đại học. Khuyến khích hành động cá nhân và cộng đồng cũng rất quan trọng, từ việc giảm rác thải nhựa đến việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng.

Sự nóng lên toàn cầu là một thách thức nghiêm trọng, yêu cầu sự chung tay của toàn xã hội. Mỗi cá nhân cần ý thức và hành động để bảo vệ môi trường, góp phần vào cuộc chiến chống lại sự nóng lên toàn cầu. Chỉ khi chúng ta cùng nhau hành động, tương lai của hành tinh này mới có thể được bảo vệ và phát triển bền vững.

Câu 2: Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm văn học mà em yêu thích?

Trả lời:

Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta ở thế kỷ XVI, một tập truyện văn xuôi bằng chữ Hán đầu tiên ở Việt Nam. Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm đó được trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

Truyện kể về một người phụ nữ tên là Vũ Thị Thiết ở huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nam. Vốn là một người vợ đoan chính, đảm đang. Nàng giữ lòng chung thuỷ, hầu hạ mẹ chồng, chăm sóc con thơ trong suốt thời gian chồng đi lính ở phương xa. Khi trở về vì nghe lời ngây thơ của con trẻ, người chồng nghi ngờ nàng thất tiết nên đánh mắng đuổi đi.

Không thể phân giải được oan tình, nàng trẫm mình ở sông Hoàng Giang. Cảm động vì lòng trung thực của nàng, Linh Phi (vợ vua biển) cứu vớt nàng và cho ở lại Long Cung. Người chồng biết vợ bị oan nên rất hối hận, lập đàn giải oan cho nàng. Vũ Nương hiện lên, ẩn hiện trong chốc lát rồi trở lại Long Cung.

Chuyện ca ngợi một người phụ nữ có phẩm chất, có tâm hồn trong sáng, sáng ngời như ngọc lại bị nỗi oan tày trời vì một chuyện ghen tuông vớ vẩn của người chồng nông nổi. Cuối cùng nàng phải tìm đến cái chết để giải nỗi oan tình.

Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh khác nhau, qua đó bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ. Vũ Nương vốn là người con gái có tư dung tốt đẹp, tính tình thùy mị, nết na. Khi lấy chồng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng phải thất hòa dù Trương Sinh vốn có tính hay ghen. Khi chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy tiễn chồng. Lời của nàng thật xúc động, nói về niềm yêu thương, mong nhớ của mình đối với người chồng sẽ đi xa, rồi bày tỏ nỗi lo lắng trước những gian lao nguy hiểm mà người chồng sẽ trải qua, niềm mong ước được đoàn tụ … làm mọi người trong tiệc đều ứa hai hàng lệ

Chồng đi đánh giặc ngoài biên ải, nàng một lòng son sắt, thủy chung, “cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết”, mong đợi chồng về trong cô đơn mòn mỏi “mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể, chân trời không thể nào ngăn được”. Hơn nữa, nàng là một người con dâu hiếu kính, tận tụy chăm sóc khi mẹ chồng còn sống, chôn cất mẹ chồng khi mẹ qua đời (lo liệu như đối với mẹ đẻ mình).

Rồi đằng đẵng thời gian trôi qua, chồng ra lính trở về, cùng là lúc nàng bị nghi oan. Vũ Nương đã phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình: “Thiếp vốn con kẻ khó … mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”. Nàng đã nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định lòng chung thuỷ, hết lòng tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ bị tan vỡ. Dù họ hàng, làng xóm có bênh vực và biện bạch, Trương Sinh vẫn không tin.

Bất đắc dĩ Vũ Nương thống thiết: “Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng … đâu có thể lên núi vọng phu kia nữa!”. Đó là hạnh phúc gia đình, niềm khao khát của cả đời nàng giờ đây tan vỡ. Tình yêu không còn, cả nỗi đau khổ chờ chồng giờ đây hóa đá.

Tuyệt vọng vì phải gánh chịu nỗi oan khuất tày trời không phương giãi bày, cứu chữa nàng đành mượn cái chết để chứng tỏ tiết hạnh trong sáng của mình. lời khấn nguyện với thần linh vô cùng thảm thiết: “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Nga Mĩ.

Nhược bằng lòng chim, dạ cá, lừa dối chồng con, được xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ …” lời khấn nguyện đã làm cho người đọc xót xa – con người rơi cảnh ngộ bế tắc, không thể tiếp tục sống để tự giải oan tình mà phải tìm đến cái chết để thần linh chứng dám.

Sau một năm ở thủy cung, khi nghe kể chuyện nhà, nàng đã ứa nước mắt khóc, nghĩ đến câu “ngựa Hồ gầm giá Bắc, chim Việt đậu cành Nam” rồi hiện về trên dòng nước cho thỏa lòng nhớ chồng, con. Qua những hoàn cảnh khác nhau của vũ Nương, với những lời tự thoại của nàng, truyện đã khẳng định những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam – một người phụ nữ đẹp người, lại nết na, hiền thục, đảm đang, tháo vát, rất mực hiếu kính với mẹ chồng, giữ vẹn lòng chung thuỷ sắt son với chồng, hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình, …. lẽ ra phải được hạnh phúc trọn vẹn thế mà phải chết một cách oan uổng, đau đớn.

Cái chết của Vũ Nương có nhiều nguyên nhân sâu xa, bắt nguồn từ hiện thực nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến của xã hội cũ, với chế độ “nam quyền”, coi rẻ thân phận của người phụ nữ, rồi tính đa nghi, ghen tuông của chồng, thói hung bạo, gia trưởng của chồng đã làm khổ đau bao cuộc đời những người phụ nữ.

Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần không bình đẳng (thiếp vốn con nhà khó, được nương tựa nhà giàu). Xã hội phong kiến lại coi trọng "nam quyền", hơn nữa Trương Sinh lại có tính đa nghi, đối với vợ thì phòng ngừa quá mức. Những chi tiết này chuẩn bị cho những hành động độc đoán của Trương Sinh sau này.

Khi đánh giặc trở về, Trương Sinh cũng mang một tâm trạng nặng nề: mẹ qua đời, con vừa học nói, lòng buồn bã. Trong hoàn cảnh như thế, lời của Bé Đản dễ kích động tính hay ghen của Trương Sinh: "trước đây, thường có một người đàn ông đêm nào cũng đến..."

Điều đáng trách là thái độ và hành động độc đoán của Trương Sinh khi ấy. Không đủ bình tĩnh để tìm hiểu vấn đề, chàng bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm, không chịu nói ra duyên cớ ghen hờn. Cuối cùng, Sinh lại mắng nhiếc nàng và đánh đuổi nàng đi. Thái độ và hành động của Trương Sinh vô hình dung dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ Nương

Hành động gieo mình xuống sông Hoàng Giang của Vũ Nương phản ánh một thực trạng về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ bị buộc chặt trong khuôn khổ khắt khe của lễ giáo, bị đối xử bất công, bị áp bức và chịu nhiều khổ đau, bất hạnh. Đó cũng chính là giá trị tố cáo hiện thực của tác phẩm.

Đằng sau nỗi oan của người thiếu phụ Nam Xương, còn bao nhiêu oan tình bất hạnh mà người phụ nữ ngày xưa phải gánh chịu: Nàng Kiều trong "Truyện Kiều'' của Nguyễn Du, người cung nữ trong "cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, người phụ nữ lỡ duyên tình trong thơ Hồ Xuân Hương,...

Phải nhận thấy rõ rằng với truyện ngắn đầu tiên viết bằng chữ Hán, Nguyễn Dữ đã có những mặt thành công trong nghệ thuật xây dựng truyện, xây dựng những đoạn đối thoại. Cách kể chuyện hấp dẫn, xây dựng tình tiết, thắt nút và gỡ nút thật bất ngờ, đầy kịch tính, càng làm cho nỗi oan tình của nhân vật hiện ra với tất cả nét thảm khốc.

"Thắt nút" truyện bằng yếu tố bất ngờ. Một câu nói ngây thơ nghe như thật của trẻ thơ mà gây bão tố dây chuyền trong cuộc đời. Bão tố nghi kỵ trong một đầu óc nam quyền độc đoán, thiếu trí tuệ; bão tố bất hoà dữ dội phá tan hạnh phúc của một gia đình êm ấm. Bão tố oan khiến phá nát cuộc đời của một người con gái trong trắng, phải kết thúc bi thảm trên một dòng sông.

"Gỡ nút" cũng bất ngờ bằng một câu nói trẻ thơ non dại (khi chỉ cái bóng của chàng Trương trên vách: "cha Đản lại đến kia kìa") thì bao nhiêu oan gây thảm kịch trong phút chốc bỗng được sáng tỏ. Truyện có những đoạn đối thoại và những lời tâm tình của nhân vật được sắp xếp đúng chỗ, làm cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc họa diễn biến tâm lí và tính cách nhân vật; lời nói của bà mẹ Trương Sinh nhân hậu, từng trải; lời lẽ của Vũ Nương bao giờ cũng chân thành, dịu dàng, mềm mỏng, có lí, có tình – lời của người phụ nữ hiền thục, đoan chính; lời của Bé Đản hồn nhiên, ngây thơ, thật thà.

Chuyện đáng lẽ có thể kết thúc ở đoạn "gỡ nút" truyện, chàng Trương Sinh tỉnh ngộ, thấu hiểu nỗi oan của Vũ Nương nhưng Nguyễn Dữ đã thêm phần Vũ Nương trở về dương thế, gặp chồng trong thoáng chốc. So với truyện cổ tích "Vợ chàng Trương", Nguyễn Dữ đã tái tạo truyền kì từ cổ tích để nâng truyện lên những giá trị tư tưởng và thẩm mĩ mới.

Điều đó, làm tăng thêm sức hấp dẫn của truyện và hoàn chỉnh tính cách nhân vật Vũ Nương, thoả mãn ước mơ của nhân dân là "ở hiền gặp lành", người tốt sẽ được đền bù. Truyện kết thúc có hậu. Trong truyện, những yếu tố truyền kì tập trung ở phần sau của truyện như con rùa mai xanh được Phan Lang cứu, Vũ Nương được ở lại Thủy Cung, rồi hiện về với kiệu hoa rực rỡ trên sông... đó là những tình tiết kì ảo, không có thực nhưng đã tạo ra một thế giới nghệ thuật lung linh huyền ảo.

Số phận và cuộc đời thực sự vẫn là thực xưa nay. Yếu tố hoang đường truyền kì không thể cứu được cuộc đời Vũ Nương với số phận bi thảm của nàng. Vũ Nương muốn sống lại mà không được sống, muốn trở về với chồng con và quê hương mà không thể trở về được.

Truyện "Người con gái Nam Xương" có giá trị hiện thực tố cáo và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Nghĩ về Vũ Nương và biết bao thân phận người phụ nữ khác trong xã hội phong kiến được phản ánh trong các tác phẩm văn học cổ, chúng ta càng thấy rõ giá trị cuộc sống của những người phụ nữ Việt Nam trong một xã hội tốt đẹp hôm nay. Họ đang vươn lên làm chủ cuộc đời, sống bình đẳng, hạnh phúc với chồng con và được đề cao nhân phẩm trong xã hội của thời đại mới.