Câu hỏi xoay quanh văn 9 kết nối: bài 7 Mưa xuân

Câu hỏi xoay quanh môn Ngữ văn 9 kết nối tri thức: Bài 7 Mưa xuân. Phần câu hỏi gồm 4 mức độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng và Vận dụng cao bám sát với chương trình sách giáo khoa. Thông qua các câu hỏi, học sinh có thể ôn luyện kiến thức đã học từ cơ bản đến nâng cao.

Nội dung chi tiết

BÀI 7. HỒN THƠ MUÔN ĐIỆU

VĂN BẢN 2: MƯA XUÂN
(12 câu)

1. NHẬN BIẾT (5 câu)

Câu 1: Tìm hiểu đôi nét về tác giả Nguyễn Bính?

Trả lời:

- Tên: tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính.

- Năm sinh: 1918 - 1966

- Quê quán: Làng Thiện Vịnh, xã Đồng Đội, Vụ Bản, Nam Định.

- 1945 - 1954: tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ.

- 1954 tập kết ra Bắc, tham gia công tác văn nghệ và làm báo.

- Mất đột ngột 20/01/1966.

- Nguyễn Bính là một người thông minh, nhạy cảm với thời đại đầy biến động, luôn muốn bảo tồn và duy trì những giá trị truyền thống của dân tộc.

- Phong cách thơ Nguyễn Bính: Nguyễn Bính là nhà thơ có hồn thơ đậm chất quê.

+ Nhà thơ nhạy cảm với thời đại đầy biến động, đặc biệt là sự xáo trộn của văn chương, ông thể hiện sâu sắc nỗi day dứt không yên của tâm hồn thiết tha với những giá trị cổ truyền đang có nguy cơ bị mai một (Chân quê). Vì thế, Nguyễn Bính đã đào sâu, tích hợp và phát huy một cách xuất sắc những truyền thống dân gian trong sáng tạo Thơ mới. Thơ ông mang đậm chất quê, hồn quê trong cả nội dung và hình thức, là sự hòa quyện giữa giọng điệu quê, lối nói quê, lời quê.

- Gắn bó, thấu hiểu con người thôn quê Việt Nam. Dù viết về hình ảnh, cảnh sắc, con người nào thì tất cả đều thắm đượm một tình quê, duyên quê, hồn quê....

- Ông làm thơ từ rất sớm (năm 13 tuổi), sáng tác nhiều thể loại (thơ, truyện thơ, chèo...).

Câu 2: Thể loại của tác phẩm?

Trả lời:

- Tác phẩm thuộc thể loại: Thơ 7 chữ

Câu 3: Hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ của tác phẩm?

Trả lời:

- Mùa xuân II xuất bản năm 1958, in trong Nguyễn Bính toàn tập – NXB Hội Nhà văn 2017.

Câu 4: Bố cục của tác phẩm?

Trả lời:

Gồm 2 phần:

+ Phần 1: Vẻ đẹp của thiên nhiên khi mùa xuân đến.

+ Phần 2: Tâm trạng và hành động của con người khi mùa xuân đến.

Câu 5: Phương thức biểu đạt của tác phẩm là gì?

Trả lời:

Văn bản Mưa xuân II có phương thức biểu đạt là biểu cảm

2. THÔNG HIỂU (2 câu)

Câu 1: Nêu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm?

Trả lời:

*Giá trị nội dung

- Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của cảnh vật thiên nhiên, đất trời trong một chiều mưa xuân. Tác giả miêu tả sự sống bừng tỉnh, sinh sôi nảy nở của muôn loài qua một buổi mưa xuân.

*Giá trị nghệ thuật

- Hình ảnh thơ sinh động, mộc mạc, gần gũi, sử dụng lối nói gián tiếp.

- Sử dụng nhiều hình ảnh nhân hóa, lối nói ví von.

Câu 2: Tóm tắt nội dung của tác phẩm theo cách hiểu của em?

Trả lời:

Bài thơ hiện ra với khung cảnh mùa xuân qua cái nhìn và cảm nhận của Nguyễn Bính. Tác giả vừa cảm nhận, vừa hỏi xung quanh đã thấy mùa xuân giống mình chưa. Khi mùa xuân đến khung cảnh đã thay đổi rất nhiều, không khí vương mùi mát lạnh của những cơn mưa thoang thoảng bay ngoài trời. Cây cối cũng đang đưa mình thay đổi, không còn sự trơ trụi ở mùa đông nữa mà thay vào đó là sự đâm chồi nảy lộc. Những cây cam và những đám cỏ dại cũng đang tận hưởng không khí mùa xuân tươi mát, chúng thi nhau ra hoa xanh tốt. Các con vật cũng đang hưởng ứng cái không khí mùa xuân đến, chúng thi nhau giăng tơ và bay lượn trên bầu trời. Tất cả thiên nhiên và con vật đều đang hòa mình vào thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp. Chúng là những loài vô tri nhưng ta vẫn có thể cảm nhận được sự thay đổi và hưởng ứng của những loài vật này. Trước cái thiên nhiên mát mẻ và tươi mới này, không thứ gì có thể cưỡng lại được. Khi mùa xuân đến, con người lại nô nức váy áo đi trẩy hội. Đi đến đâu là có thể cảm nhận từng đợt mưa xuân đến đấy, vừa đi vừa nghe thấy tiếng trống làng rôm rả ngoài đầu đình. Cảnh sắc mùa xuân còn xuất hiện thêm hình ảnh những đàn cò trắng bay lượn và hình ảnh đoàn tàu đang chạy. Mọi hoạt động đều được diễn ra thường xuyên, nhưng khi mùa xuân đến mọi thứ như nhộn nhịp và hào hứng hơn. Cái ẩm ướt của mưa xuân đang bao phủ khắp các làng và những lưu luyến không dứt dành cho thiên nhiên mùa xuân.

3. VẬN DỤNG (3 câu)

Câu 1: Nêu thời gian và cảnh vật trong bài thơ?

Trả lời:

- Thời gian: chiều ấm

- Cảnh vật:

+ gió thoảng đưa

+ mưa bụi rắc thưa thưa

+ tơ nhện vừa giăng sợi trắng ngần

+ Lơ lửng mù sương phảng phất mưa

=> Thể hiện sự tươi mới sống động, vừa hào hứng e lệ trước cảnh sắc mùa xuân. Bầu trời như phủ một sắc trắng mờ ảo của những hạt mưa xuân, chúng đậu trên từng cành cây kẽ lá.

Câu 2: Phân tích thiên nhiên trong ở trong bài thơ?

Trả lời:

- Thiên nhiên:

+ cây cam quýt cành giao nối

+ lá đón mưa

+ Đôi bờ cỏ dại nở hoa xanh

+ Bãi lạnh bờ dâu sẫm lá tơ

= > Cây cối trong vườn cũng đua nhau đâm chồi nảy lộc, khoe sắc hưởng ứng mùa xuân.

Câu 3: Tác dụng của việc sử dụng từ láy “tà tà”, “thưa thưa” là gì?

Trả lời:

- Sử dụng từ láy “tà tà”, “thưa thưa”

= > Nhấn mạnh sự e lệ của thiên nhiên.

= > Thiên nhiên như khoác trên mình một chiếc áo mới.

= > Đất trời thì như đang có sự chuyển biến thêm nhiều sức sống hơn, như đang báo hiệu mùa xuân thực sự đến rồi.

4. VẬN DỤNG CAO (2 câu)

Câu 1: Phân tích tâm trạng và hành động của con người khi mùa xuân đến?

Trả lời:

- Xa xa là những đàn cò trắng đang xếp hàng bay đi, những đoàn xe lửa thì nối đuôi nhau chở khách.

+ Xe lửa về Nam chạy chạy mau

+ Một toán cò bay thành hàng chữ nhất

=> Tất cả đã tạo nên một bức tranh mùa xuân nhộn nhịp và tràn đầy sức sống.

- Con người cũng hòa vào không khí mùa xuân khi xúng xính váy áo đi trẩy hội. Mỗi dịp xuân đến là đâu đâu cũng tưng bừng mở lễ hội, tiếng trống đánh vang lên khắp các đường làng.

+ Người đi trẩy hội tóc phơi trần.

+ Vang tiếng trống hội đình

= > Từ hành động của con người ta thấy được tâm trạng: háo hức, hào hứng và vui mừng khi chuẩn bị đón mùa xuân của con người nơi đây.

= > Kết luận:

- Tác giả đã cảm nhận mùa xuân ở tất cả mọi khía cạnh tinh tế, nhạy cảm của mình để cảm nhận mùa xuân đến một cách trọn vẹn nhất.

- Mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính lúc nào cũng tràn ngập màu sắc, ngập tràn niềm vui và sự rộn ràng. Tất cả đã tạo nên một khung cảnh thiên nhiên hòa hợp với đất trời, báo hiệu một năm đầy khởi sắc.

Câu 2: Viết bài văn nêu cảm nhận của em về bài thơ Mưa Xuân của Nguyễn Bính?

Trả lời:

Nguyễn Bính được xem là một trong những nhà thơ xuất sắc của làng quê Việt Nam. Thơ của ông mang bản chất trữ tình hồn hậu, chân chất như chính tính cách của những người nông dân hiền lành chất phác. Bài thơ “Mưa xuân” nằm trong tập Lỡ bước sang sang (1940) đã cho chúng ta thấy được phong cách nghệ thuật đặc trưng này của nhà thơ.

Mưa xuân là bài thơ mượn câu chuyện tình cảm của một cô gái bên khung cửi khi nhớ đến người yêu. Những tiếng lòng tha thiết khi cô gái nhớ mong người yêu được gửi gắm rất tha thiết

“Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già,

Lòng trẻ còn như cày lụa trắng,

Mẹ già chưa bán chợ làng xa…”

Cô gái trong bài thơ đã kể về chính mình là một cô gái dệt lụa suốt ngày quanh quẩn bên khung cửi và mẹ già. Tấm lòng ví như tấm lụa trắng mà chưa được bán vào tay ai cả. Thế nhưng sự đời đâu có bình yên trôi qua như vậy cho đến một ngày:

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy”

Hai câu thơ tả cảnh rất hay và rất tình. Mưa xuân thường mang đến cảm giác rất nhẹ nhàng, êm ái như gieo vào lòng người những xuyến xao. Mùa xuân đến với hoa xoan rụng từng lớp, từng lớp vẽ nên một bức tranh quê thật tuyệt vời. Và để tăng thêm cái ấm áp đó có thêm một sự kiện bất ngờ đó là:

“Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ

Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”…

Nếu hình ảnh hoa xoan làm cho câu thơ mang nét thi vị, thì sự xuất hiện của “hội chèo làng Đặng” lại làm cho bài thơ mang đậm chất quê, không lẫn vào đâu được. Trên thực tế, hội chèo mỗi năm chỉ diễn ra một lần duy nhất vào mùa xuân ở các làng, nhất là các vùng quê chèo như Thái Bình, Nam Định. Trong cái đêm hội chèo định mệnh ấy, “em” đã gặp anh. Và cuộc gặp gỡ ấy chỉ được diễn tả thoáng qua, thoáng qua đến mức làm cho người đọc dễ dàng bỏ qua sự kiện.

“Lòng thấy giăng tơ một mối tình

Em dừng thoi lại giữa tay xinh

Hình như hai má em bừng đỏ

Cỏ lẽ là em nghĩ đến anh…”

Vâng sự kiện hội chèo đã gieo rắc vào lòng em nụ hồng tình đầu chớm nở. Mối tình đầu xao xuyến ấy đã làm cho “hai má em bừng đỏ” khi em “nghĩ đến anh”. Mạch thơ vẫn tiếp tục với sự kể lể của nhân vật trữ tình như là để trình bày nguyên cớ, hay là để bộc lộ rõ sự vận động trong nội tâm nhân vật.

“Mình em lầm lụi trên đường về

Có ngắn gì đâu một dải đê,

Áo em che đầu mưa nặng hạt.

Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya.”

Từ tâm trạng bối rối thương yêu đã trở nên buồn tủi hơn với nỗi nhớ của riêng mình. Lúc này chỉ còn mình cô gái trên đường về. Mưa xuân đã chuyển nặng hạt hơn không còn mang cho người ta cảm giác tươi mát như ban đầu. Mà ngược lại, mưa làm còn làm cho người con gái thêm buồn tủi trong đêm lạnh. Khoảng cách giữa nhân vật “em” và “anh” lúc này không còn là một “thôi đê” nữa mà là “một dải đê” xa tít tắt.

“Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay.

Hoa xoan đã nát dưới chân giày

Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ,

Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”…

Cũng là bữa ấy có mưa xuân, có hoa xoan, có hội chèo làng Đặng. Nhưng lúc này cảnh vật đã có sự đối lập rõ rệt. Đó là “mưa xuân đã ngại bay”, “hoa xoan đã nát”, lần này là hội chèo làng Đặng đi qua. Nghe lời người mẹ nói thì mùa xuân đã cạn ngày như chính tình yêu của cô gái vậy. Chữ “cạn” cũng được xem vừa là sự kết thúc, nhưng đồng thời nó cũng là sự mở đầu

“Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày

Từ một cuộc hẹn không thành mà mối duyên lành vĩnh viễn trôi. Nỗi đau khổ đầu đời như một vết cứa vào tâm hồn người con gái. Những tưởng như nỗi đau đó làm mùa xuân đã cạn ngày và tình yêu cũng chết trong em. Nhưng không đến khổ thơ cuối là sự bùng cháy mãnh liệt ngọn lửa khao khát yêu thương trong em.

“Bao giờ em mới gặp anh đây

Bao giờ hội Đăng đi ngang ngõ

Để mẹ em rằng hát tối nay?”

Bài thơ “Mưa xuân” không chỉ đơn thuần là một bức tranh tả cảnh quê. Mà nó còn là nỗi lòng của những người đang yêu là các chàng trai, cô gái chốn thôn quê, của chính tâm hồn thi sĩ.