Câu hỏi xoay quanh văn 9 kết nối: bài 7 Tập làm một bài thơ tám chữ, Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ
Câu hỏi xoay quanh môn Ngữ văn 9 kết nối tri thức: Bài 7 Tập làm một bài thơ tám chữ, Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ. Phần câu hỏi gồm 4 mức độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng và Vận dụng cao bám sát với chương trình sách giáo khoa. Thông qua các câu hỏi, học sinh có thể ôn luyện kiến thức đã học từ cơ bản đến nâng cao.
Nội dung chi tiết
BÀI 7. HỒN THƠ MUÔN ĐIỆU
VIẾT: TẬP LÀM THƠ TÁM CHỮ - VIẾT ĐOẠN VĂN GHI LẠI CẢM NHẬN VỀ MỘT BÀI THƠ TÁM CHỮ
(12 câu)
1. NHẬN BIẾT (4 câu)
Câu 1: Nêu định nghĩa thơ tám chữ? Và cấu trúc của một bài thơ tám chữ?
Trả lời:
- Định nghĩa: Thơ tám chữ là thể thơ có mỗi dòng gồm tám chữ, thường được viết theo các thể loại khác nhau như lục bát, tự do hoặc theo một quy luật nhất định về vần điệu.
- Cấu trúc: Một bài thơ tám chữ có thể có nhiều dòng, mỗi dòng sẽ có chính xác tám chữ. Thường thì các dòng thơ có thể được sắp xếp theo các quy luật về vần (vần lưng, vần chân) và nhịp điệu (nhịp 2/2, 4/4, v.v.).
Câu 2: Nêu ví dụ về một bài thơ tám chữ nổi tiếng và tác giả của bài thơ?
Trả lời:
- Bài thơ Quê hương của tác giả Tế Hanh
- Bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ
- Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt
- Bài thơ Yêu của Xuân Diệu
Câu 3: Liệt kê các thể thơ khác ngoài thơ tám chữ mà em biết?
Trả lời:
Thơ lục bát (6 chữ - 8 chữ)
Thơ ngũ ngôn (5 chữ)
Thơ thất ngôn (7 chữ)
Thơ tự do (không quy định số chữ)
Thơ bốn chữ (4 chữ)
Câu 4: Phân tích sự khác biệt giữa thơ tám chữ và các thể thơ khác về mặt số lượng chữ trong mỗi câu?
Trả lời:
+ Thơ tám chữ: Mỗi dòng có 8 chữ, tạo nên nhịp điệu đều đặn và cân đối, dễ nhớ và dễ thuộc.
+ Thơ lục bát: Kết hợp giữa 6 chữ và 8 chữ, tạo ra sự phong phú và linh hoạt trong cách diễn đạt.
+ Thơ ngũ ngôn: Mỗi dòng có 5 chữ, thường ngắn gọn và súc tích hơn.
+ Thơ thất ngôn: Mỗi dòng có 7 chữ, thường tạo ra cảm giác mạnh mẽ và trầm lắng hơn.
+ Thơ tự do: Không bị ràng buộc bởi số lượng chữ, cho phép tác giả tự do sáng tạo.
2. THÔNG HIỂU (3 câu)
Câu 1: Nêu một số biện pháp nghệ thuật thường gặp trong thơ tám chữ và cho ví dụ minh họa?
Trả lời:
+ Ẩn dụ: Là hình thức so sánh gián tiếp, giúp hình ảnh trở nên sinh động hơn.
Ví dụ: "Cánh đồng xanh mướt, như biển cả."
+ Nhân hóa: Là cách gán cho các sự vật, hiện tượng những đặc điểm của con người.
Ví dụ: "Gió hát ru êm, mây lững lờ trôi."
+ Điệp ngữ: Sử dụng lặp lại từ hoặc cụm từ để nhấn mạnh ý nghĩa.
Ví dụ: "Đêm đêm nhớ về, đêm đêm trăn trở."
+ Vần điệu: Tạo âm điệu, nhịp điệu cho bài thơ, thường là vần chân hoặc vần lưng.
Ví dụ: "Ngọn gió nhẹ nhàng, mang theo hương đồng."
Câu 2: Viết một bài thơ tám chữ về chủ đề thiên nhiên hoặc tình yêu?
Trả lời:
Quê hương tôi
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng.
Chẳng biết nước có giữ ngày, giữ tháng
Giữ bao nhiêu kỉ niệm giữa dòng trôi?
Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi!
Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ
Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ
Sông của miền Nam nước Việt thân yêu
Câu 3: Viết một đoạn văn ngắn (5-7 câu) ghi lại cảm nhận của em về một bài thơ tám chữ mà em yêu thích?
Trả lời:
Trong bài thơ Bếp Lửa của Bằng Việt, có lẽ hình ảnh bếp lửa chính là hình ảnh đặc biệt nhất. Bếp lửa tượng trưng cho những tháng ngày cơ cực nhưng tràn đầy tình yêu của bà dành cho cháu. Bếp lửa chờn vờn sương sớm, bếp lửa ấp iu nồng đượm được chắt chiu từ người bà tần tảo sớm hôm. Hình ảnh bếp lửa hiện lên cho thấy sự vất vả khó nhọc hi sinh sớm hôm của người bà đối với cháu. Bà luôn mong cháu có một cuộc sống ấm lo, đủ đầy. Không chỉ vậy, hình ảnh bếp lửa còn là sự gắn liền với mùi khói hun nhèm mắt cháu. Bếp lửa ấy gắn liền với cuộc đời cơ cực, đầy khó khăn của hai bà cháu. Nhưng dù có thiếu thốn vật chất nhưng tình cảm bà cháu vẫn luôn đong đầy. Chính cái mùi khói cay xè ấy đã trở thành một ký ức không thể nào quên đối với người cháu mỗi khi nhớ về tuổi thơ ấy. Bếp lửa không chỉ gợi nhớ về sự tần tảo của người bà mà còn gợi nhớ về một tuổi thơ, về những cay đắng đã trải qua thời niên thiếu, những ngày tháng ấy tuy nghèo đói nhưng nhà thơ luôn được sống trong tình yêu thương của người bà. Nhớ bà cũng chính là khi tác giả nhớ về bếp lửa, nhớ về tuổi thơ của mình. Bà là người nhóm lửa, ngọn lửa của tình yêu thương mà lòng bà luôn ấp ủ sẵn để có thể sưởi ấm cho cháu bất cứ khi nào cháu cần. Còn gì thiêng liêng bằng trái tim yêu thương của bà đã hóa thành ngọn lửa bất diệt, luôn luôn cháy mạnh mẽ soi đường cho cháu tiến về phía trước. Ngọn lửa ấy thiêng liêng và quan trọng để rồi tới khi đi xa, khi được sống trong sung sướng, đủ đầy nhưng cháu vẫn không cảm nhận được bằng hơi ấm của bà và bếp lửa. Bếp lửa ấy là nơi bà nhen nhóm lên những yêu thương, sự quan tâm chăm sóc, những ký ức tươi đẹp trong tuổi thơ cháu. Ngọn lửa của bà như nguồn ánh sáng mạnh mẽ soi rọi con đường cháu đi. Có thể nói bếp lửa không chỉ đơn thuần là bếp lửa mang lại hơi ấm mà nó còn là một bầu trời sức mạnh, một biển cả yêu thương, một điểm tựa vững chắc đối với cháu. Bếp lửa chính là sự hiện hữu thiêng liêng cao cả của người bà, của sức mạnh và niềm tin bất diệt mà người cháu luôn ghi nhớ trong lòng
3. VẬN DỤNG (3 câu)
Câu 1: Giải thích tại sao thơ tám chữ lại được ưa chuộng trong văn học Việt Nam qua nhiều thế hệ?
Trả lời:
- Dễ nhớ, dễ thuộc: Với cấu trúc đều đặn, thơ tám chữ dễ dàng được ghi nhớ và truyền miệng trong cộng đồng.
- Tính nhạc điệu: Các dòng thơ có 8 chữ thường tạo ra âm điệu hài hòa, dễ nghe, phù hợp với văn hóa dân gian và ca dao.
- Nội dung phong phú: Thể thơ này cho phép diễn đạt nhiều ý tưởng và cảm xúc một cách súc tích nhưng vẫn đầy đủ.
- Phù hợp với truyền thống: Thơ tám chữ thường được sử dụng trong các bài hát, điệu múa, phù hợp với các hoạt động văn hóa cộng đồng, giúp gắn kết mọi người.
Câu 2: Lập một bảng so sánh giữa thơ tám chữ và thơ lục bát về mặt ngữ nghĩa và cấu trúc?
Trả lời:
Thơ tám chữ | Thơ lục bát | |
Cấu trúc | Mỗi dòng có 8 chữ, có thể có nhiều dòng. | Kết hợp giữa 6 chữ (dòng 1) và 8 chữ (dòng 2), thường theo cặp. |
Số lượng dòng | Không giới hạn, có thể dài hoặc ngắn. | Thường được viết thành cặp, tạo thành khổ thơ. |
Vần điệu | Có thể có vần hoặc không vần, linh hoạt. | Thường có vần ở cuối dòng 2 và dòng 4, tạo âm điệu đặc trưng. |
Ngữ nghĩa | Thể hiện ý tưởng rõ ràng, súc tích, dễ hiểu. | Thể hiện cảm xúc sâu sắc, giàu hình ảnh, thường có yếu tố triết lý. |
Tính nhạc điệu | Nhịp điệu có thể thay đổi, linh hoạt hơn. | Nhịp điệu đều đặn, tạo cảm giác êm ái, dễ nhớ. |
Chủ đề | Có thể viết về nhiều chủ đề khác nhau. | Thường viết về tình yêu, thiên nhiên, cuộc sống, và các giá trị văn hóa dân gian. |
Tính chất | Thường mang tính hiện đại, tự do hơn. | Thường mang tính truyền thống, gần gũi với văn hóa dân gian. |
Câu 3: Viết một đoạn văn phân tích cảm xúc của nhân vật trong một bài thơ tám chữ, chỉ ra cách tác giả thể hiện cảm xúc đó qua ngôn ngữ và hình ảnh?
Trả lời:
Trong bài thơ "Nhớ rừng" của Thế Lữ, cảm xúc của nhân vật trữ tình được thể hiện một cách sâu sắc và mãnh liệt. Nhân vật mang trong mình nỗi nhớ quê hương da diết, điều này được thể hiện qua những hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ và quyến rũ. Tác giả sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, ví dụ như "cánh rừng xanh thẳm," "dòng suối trong veo," để gợi lên vẻ đẹp của quê hương, từ đó khắc sâu nỗi nhớ trong lòng người lính. Các biện pháp tu từ như ẩn dụ và nhân hóa cũng được sử dụng hiệu quả, khi tác giả so sánh tình cảm của nhân vật với hình ảnh thiên nhiên, tạo ra sự hòa quyện giữa con người và cảnh vật. Cảm xúc nhớ thương không chỉ đơn thuần là nỗi buồn mà còn là niềm tự hào về quê hương, khiến người đọc cảm nhận được sự thiêng liêng và sâu sắc của tình yêu đất nước. Qua đó, Thế Lữ đã khéo léo thể hiện tâm tư của người lính, vừa mạnh mẽ nhưng cũng đầy nhạy cảm trước vẻ đẹp của quê hương.
4. VẬN DỤNG CAO (2 câu)
Câu 1: Lập dàn ý phân tích một bài thơ 8 chữ mà em yêu thích?
Trả lời:
Mở bài
- Sơ lược về đề tài “quê hương”.
- Sơ lược về Tế Hanh và bài thơ Quê hương của ông.
Thân bài
a. Lời đề từ: “Chim bay dọc biển mang tin cá”:
- Khái quát một cách chung nhất về cuộc sống gắn bó với miền sông nước, với hơi thở mặn mòi của biển cả trong cuộc sống của những người dân làng chài nơi quê hương Quảng Ngãi của tác giả.
b. Hai câu thơ đầu: “Làng tôi...nửa ngày sông”:
- Gợi ra dáng hình của quê hương với đặc điểm địa hình đặc biệt “nước bao vây”, tựa như một cù lao nổi lên giữa sóng nước mênh mông, và khoảng cách địa lý được đo đếm bằng thời gian “cách biển nửa ngày sông”, rất đậm lối nói của người vùng sông nước.
- Gợi ra công việc chài lưới quanh năm.
c. 6 câu thơ tiếp “Khi trời trong...thâu góp gió”: Cảnh ra khơi của ngư dân
- “Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng”: Thời tiết thuận lợi, nét vẽ mang màu sắc hứng khởi, cảm xúc lãng mạn tràn ngập, gợi không khí hào hứng trước khi ra khơi.
- “Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá”: Vẻ đẹp khỏe mạnh, tràn trề sức sống của người dân lao động .
- “Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã” trước là để chỉ khí thế hăng hái, sự mạnh mẽ, kiên cường, vẻ đẹp kiêu hùng của người dân trong lao động, ở họ luôn có vẻ hiên ngang, kiêu hãnh, và lòng quyết tâm sâu sắc.
- “Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang”: Sử dụng động từ mạnh “phăng” để thể hiện sức mạnh và tầm vóc của con người trong lao động, “trường giang” tức là con sông dài, rộng lớn, thế nhưng khi vào thơ của Tế Hanh thì nó lại trở thành bệ phóng cho tầm vóc kỳ vĩ của con người.
- “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng/Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”:
+ Tác giả vẽ nên mảnh hồn làng, mảnh hồn quê hương bằng một cánh buồm trắng, lấy cái trừu tượng đem so với cái hữu hình, cánh buồm theo ngư dân đi đánh cá, nó mang theo trong đó là nỗi nhớ, nỗi mong chờ tha thiết của những người ở lại, là lời nhắc nhở, gợi nhớ của quê hương sâu nặng đối với những người ra đi.
+ Cánh buồm không chỉ mang tính biểu tượng, mà bản thân nó dường như cũng có linh tính, cũng cố gắng góp công góp sức trong công cuộc lao động của người ngư dân như một cách thể hiện tình cảm, sự ủng hộ của quê hương qua hình ảnh “rướn thân trắng bao la thâu góp gió”.
=> Sự đoàn kết trong công cuộc lao động của người dân làng chài, gắn bó với nhau không chỉ trong hoạt động mà còn là trong tâm hồn, đến mức cả một vật vốn vô tri cũng cảm nhận được mà chúng tay góp sức tạo thành quả.
d. Bốn câu thơ tiếp: “Ngày hôm sau...bạc trắng”:
- Cảnh dân làng đón thuyền trở về trong không khí vui mừng náo nhiệt, hạnh phúc trước những thành quả đạt được sau tròn một ngày lao động cật lực.
- Thể hiện sự ấm no, yên vui trong khung cảnh “ồn ào”, “tấp nập”.
- Truyền thống ân tình, ân nghĩa họ thầm biết ơn mẹ thiên nhiên đã nuôi dưỡng và ban cho “những con cá tươi ngon thân bạc trắng”, đã lặng lẽ, bao dung tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân được lao động, đánh bắt.
e. Bốn câu tiếp “Dân chài lưới...thớ vỏ”:
- Hình tượng người ngư dân đậm phong vị biển cả với vẻ đẹp khỏe khoắn, mạnh mẽ nhưng cũng không kém phần lam lũ vất vả trong công cuộc mưu sinh.
- Hình tượng con thuyền được nhân hóa, dường như có giác quan, biết nghe biết cảm nhận vị muối của quê hương thấm dần vào từng thớ vỏ, đang lặng lẽ ngẫm nghĩ về những chuyến khơi xa, những lần vượt muôn trùng sóng biển đầy kỷ niệm gắn bó.
=> Có thể thấy rằng Tế Hanh là một nhà thơ rất tinh tế và nhạy cảm, tầm mắt của ông không chỉ dừng ở con người mà nó còn nằm ở cả sự vật ông dành tình cảm yêu thương trân trọng cho con người quê hương, cũng đành ánh mắt thông cảm, thấu hiểu, thậm chí là vẽ lên vẻ đẹp tâm hồn cho từng sự vật.
f. Khổ thơ cuối: Nỗi nhớ của nhà thơ về quê hương.
Kết bài:
Nêu cảm nhận cá nhân.
Câu 2: Viết đoạn văn phân tích một bài thơ 8 chữ mà em yêu thích?
Trả lời:
Quê hương là nguồn cảm hứng bất tận của nhiều nhà thơ Việt Nam và đặc biệt là của Tế Hanh - một tác giả có mặt trong phong trào Thơ mới và sau cách mạng vẫn tiếp tục sáng tác dồi dào. Ông được biết đến với những bài thơ viết về quê hương miền Nam thân yêu với tình cảm chân thành và rất sâu lắng. Người ta có thể thấy trong thơ ông hơi thở nồng nàn của người dân xứ biển, hay một dòng sông đầy nắng những buổi chiều gắn liền với tình yêu quê hương sâu nặng của nhà thơ.
Bài thơ “Quê hương” là một kỉ niệm tuổi thơ sâu sắc, là tác phẩm mở đầu cho cảm hứng về quê hương trong thơ Tế Hanh, được viết bằng tất cả tình yêu đối với chất thơ mạnh mẽ, hào hùng. Bài thơ “Quê hương” được sáng tác năm 1939 lúc Tế Hanh đang học tại Huế trong nỗi nhớ quê hương tha thiết. Ông đã vẽ ra 1 bức tranh tươi sáng, sinh động về 1 làng quê miền biển với những người con làng chài khỏe khoắn, chan chứa nhựa sống bằng giọng thơ gợi cảm, hào hùng, hình ảnh phong phú và ý nghĩa.
Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ kết hợp cả hai kiểu vần liên tục và vần ôm, phần nào thể hiện nhịp sống của một làng chài ven biển:
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bủa vây cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong, gió nhẹ, ban mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.
Nếu như quê hương trong tâm trí những người con đất Việt là mái đình, là gốc đa, giếng nước sân đình, là bát canh rau muống cà dầm tương thì quê hương trong tâm trí Tế Hanh là một làng chài trên một cù lao giữa sông và biển, làng chài dập dềnh sóng vỗ. Cảnh làng quê như mở ra trước mắt ta thật sinh động với “Trời trong - gió nhẹ - sớm mai hồng”. Không gian như kéo dài ra, bầu trời như cao hơn, tràn ngập ánh sáng. Bầu trời trong xanh, gió hiu hiu, ánh nắng hồng nhẹ nhàng chạm lên những giọt bình minh đang đến báo hiệu một ngày mới lại bắt đầu, một ngày mới tràn đầy hy vọng, Một ngày mới với đầy ắp sự hăng hái, phấn khởi của biết bao người trên những con thuyền đã căng buồm ra biển khơi:
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Nếu như ở trên là tả cảnh thì đây là câu thơ vẽ lên một hình ảnh lao động sôi nổi, năng động. Con thuyền được so sánh với "con tuấn mã" phi nước đại trên thảo nguyên càng làm cho câu thơ mạnh mẽ hơn, thể hiện niềm hân hoan, phấn khởi của người dân chài. Câu thơ còn sử dụng các động từ mạnh như “hăng”, “phăng”, “vượt” thể hiện một cách ấn tượng khí thế hiên ngang, dữ dội của con thuyền, toát lên sức sống căng tràn, hừng hực khí thế. Vượt qua sóng gió. Đánh bại biển khơi. Con thuyền ra khơi với một tư thế vô cùng kiêu hãnh và oai phong hùng tráng:
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…
Từ hình ảnh thiên nhiên, tác giả liên tưởng đến “hồn người”. Phải là một tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật, một tấm lòng gắn bó với quê hương làng quê, Tế Hanh mới có thể viết được như vậy. Cánh buồm trắng vốn là hình ảnh quen thuộc nay đã trở nên bao la trong thiên nhiên. Cánh buồm trắng đón gió vượt trùng khơi như tâm hồn con người hướng về một tương lai tươi sáng. Có lẽ nhà thơ chợt nhận ra rằng hồn quê hương đang ở trong cánh buồm. Hình ảnh trong đoạn thơ trên vừa nên thơ, vừa hùng vĩ, vừa miêu tả chính xác hình thức, vừa gợi được cái hồn của sự vật.
Ta thấy phép so sánh ở đây không chỉ làm cho sự miêu tả thêm sinh động. diệu kỳ mà còn gợi ra một vẻ đẹp bay bổng đầy trang trọng. Ấy chính là sự tinh tế của nhà thơ. Cũng có thể hiểu rõ hơn qua câu thơ này là bao nhiêu tình cảm thiêng liêng, bao nhiêu hy vọng mưu sinh của ngư dân đã gửi gắm vào cánh buồm no gió. Dấu chấm lửng ở cuối câu thơ cho ta ấn tượng về một không gian mở ra đến vô cùng, vô tận, giữa mênh mông sóng nước, hình ảnh những con người trên con thuyền nhỏ bé không hề đơn độc một mình, mà trái lại như thấy mình chủ động, làm chủ bản chất của chính mình.
Toàn bộ bài thơ ngập tràn khung cảnh quê hương và những người dân chài ra khơi đánh cá, thể hiện một cuộc sống tấp nập người sôi động, niềm phấn khởi, hy vọng và lạc quan trong ánh mắt của mỗi ngư dân. Sự mong đợi, niềm vui công việc vào ngày mới với nhiều kết quả tốt tiếp tục được thể hiện qua khổ thơ tiếp theo:
Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Các tính từ “ồn ào”, “tấp nập” toát lên vẻ rộn ràng, tấp nập của những cánh buồm căng buồm đón đoàn thuyền đánh cá trở về. Người đọc như được thực sự sống trong bầu không khí ấy, lắng nghe tấm lòng cảm tạ trời đất đã cho sóng yên, biển lặng để ngư dân trở về bình an đầy thuyền, thấy “những con cá tươi ngon thân bạc trắng”. Tế Hanh không mô tả tỉ mỉ công việc đánh cá của người ngư dân nhưng bằng lời thơ của mình, người ta có thể dễ dàng hình dung trong thơ của ông hình ảnh những người lao động không biết mệt mỏi để gặt hái những thành tựu trước biển khơi. Sau chuyến ra khơi, hình ảnh đoàn thuyền và mọi người trở về nơi nghỉ ngơi:
Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Có thể nói đây là những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của bài thơ. Với bút pháp tả thực, hình ảnh “làn da ngăm rám nắng” dường như đã để lại ấn tượng rất sâu sắc về vẻ đẹp rắn rỏi của người ngư chài bám biển, thì câu thơ sau lại được miêu tả với cảm giác rất lãng mạn “ Cả thân hình nồng thở vị xa xăm”. Thân hình vạm vỡ của người đánh cá là thấm đượm hơi thở của biển, vị mặn mòi của đại dương bao la. Nét đặc sắc của đoạn thơ là gợi được cả tâm hồn và tầm vóc của con người xứ biển, hai câu thơ tả con thuyền nằm bất động trên bến cũng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo.
Nhà thơ không chỉ nhìn thấy con thuyền bất động trên bến mà còn thấy cả sự mệt mỏi của nó. Như một người đánh cá, con thuyền có vị mặn của nước biển, con thuyền như đang lắng nghe vị muối của đại dương thấm vào từng thớ thịt của thân tàu. Con thuyền trở nên chuyển động hơn, nó không còn là vật vô tri vô giác mà đã trở thành người bạn của ngư dân.
Quả thực, không phải người con làng chài thì sao có thể viết được hay như thế, tình tứ như thế. Những câu thơ trải ra như thế khi tâm hồn Tế Hanh hết mình tan vào cảnh vật để lắng nghe. Có tiếng gió nhè nhẹ trong ngày mới, có tiếng sóng xô bờ bạc trắng, có tiếng chợ cá và những âm thanh lắng đọng trong từng thớ gỗ con thuyền. Có lẽ cái chất mặn mòi này cũng đã thấm sâu vào da thịt, vào tâm hồn nhà thơ để trở thành một nỗi ám ảnh đầy bâng khuâng diệu kỳ. Cái tinh tế và cái tài của Tế Hanh là ở chỗ ông “nghe thấy cả những điều không hình sắc, không âm thanh" như một ‘mảnh hồn làng’ trên ‘cánh buồm giương’…
Thơ Tế Hanh là một thế giới rất gần, thường ta chỉ nhìn thấy nó một cách mơ hồ, thế giới cảm xúc mà ta đã âm thầm trao cho cảnh vật: sự mệt mỏi và say sưa của con thuyền trở về bến…”Nói lên từ đáy lòng từ tấm lòng" là khi nhà thơ bày tỏ tình cảm của người con xa quê, hướng về quê hương, hướng về đất nước:
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá
Nếu không có những câu thơ này, có lẽ chúng ta sẽ không biết nhà thơ đang ở xa quê hương. Người đọc có thể nhìn thấy một cảnh tượng miền biển rất sống động trước mắt, nhưng thực chất hình ảnh thơ lại được viết ra từ tâm trí xa xôi của một cậu học trò - nhà thơ trong quá khứ. Có thể nhận ra rằng quê hương luôn trong tiềm thức của nhà thơ, quê hương luôn hiện hữu trong từng suy nghĩ và cảm xúc của Tế Hanh bất kể ở đâu, thời điểm nào.
Nỗi nhớ quê hương da diết biến thành lời nói rất đỗi giản dị: “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá”. Quê hương là mùi biển mặn, quê hương là làn nước trong xanh, màu cá bạc, cánh buồm vôi. Màu sắc của quê hương là màu sắc sống động nhất, gần gũi nhất. Tế Hanh thích những hương vị đặc trưng của quê hương đầy quyến rũ và ngọt ngào.
Thơ Tế Hanh bình dị như chính con người ông, bình dị như người dân quê hương miền biển - khỏe khoắn và sâu lắng. Từ hình ảnh thơ hiện lên một hình tượng thiên nhiên trong sáng, thơ mộng và hùng vĩ về cuộc sống lao động hàng ngày của con người. Nếu như người ta đã quen liên tưởng giữa quê hương và đồng bằng, thì Quê hương của Tế Hanh như thổi một làn sóng biển nồng nàn vào chủ đề tình yêu quê hương đất nước của phong trào thơ mới Việt Nam thời kỳ này. Bài thơ để lại ấn tượng khó phai về một làng chài cách biển nửa ngày đường bên dòng sông lấp lánh sóng và nắng vàng. Hồn sông biển ấy đã là nguồn cảm hứng cho Tế Hanh từ thuở "hoa niên” đến những ngày tập kết ngoài Bắc. Vẫn còn đó tình quê hương sâu lắng, ấm áp của người con xa quê:
Tôi dang tay ôm nước vào lòng
Sông mở nước ôm tôi vào dạ
Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả
Kẻ sớm hôm chài lưới ven sông
Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng
Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến
Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển
Vẫn trở về lưu luyến bến sông
(Nhớ con sông quê hương – 1956)
Bằng một tâm hồn giản dị, Tế Hanh xuất hiện trong phong trào Thơ mới nhưng không hề có những suy nghĩ nhàm chán về cuộc đời, trốn chạy thực tại, đắm mình trong cái tôi riêng tư như nhiều nhà thơ lúc bấy giờ. Thơ Tế Hanh là hồn thơ hòa quyện với hồn nhân dân, hồn dân tộc, “cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”. “Quê hương” - hai tiếng thân thương, thiêng liêng nhất, trong sáng nhất, xuất hiện trong thơ của Tế Hanh một cách rất giản dị mà thân thương. Quê hương Quảng Ngãi đọng trong tâm hồn người con xa xứ - Tế Hanh - luôn hiện lên với vẻ cường tráng, tự hào và khát khao. Bài thơ có giọng điệu khỏe khoắn, hình ảnh sinh động gây hứng thú cho người đọc, ngôn ngữ hùng hồn gợi một khung cảnh quê hương “rất Tế Hanh”. "Quê hương" của Tế Hanh đã thực sự sống trong lòng người đọc, sống trong lòng dân tộc, sống hòa cùng vị mặn mòi của biển khơi.
Tài liệu cùng môn học
- Trắc nghiệm văn 9 kết nối tri thức
- Giáo án word văn 9 kết nối tri thức
- Giáo án ppt văn 9 kết nối tri thức
- Giáo án word dạy thêm văn 9 kết nối tri thức
- Giáo án ppt dạy thêm văn 9 kết nối tri thức
- Soạn văn 9 kết nối tri thức
- Phiếu bài tập văn 9 kết nối tri thức
- Lý thuyết văn 9 kết nối tri thức
- Soạn ngắn văn 9 kết nối tri thức
- Câu hỏi xoay quanh Ngữ văn 9 kết nối tri thức
- Văn mẫu 9 kết nối tri thức
- Đề thi ngữ văn 9 kết nối tri thức
- Ppt trò chơi AI Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
- Tóm tắt tác phẩm văn 9 kết nối tri thức
- Video AI mở đầu Ngữ văn 9 kết nối tri thức
Tài liệu khác
- Trắc nghiệm văn 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm địa lí 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm KHTN 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm công dân 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm lịch sử 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm toán 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm tin học 9 kết nối tri thức
- Trắc nghiệm âm nhạc 9 kết nối tri thức
- => Xem nhiều môn hơn