GA tích hợp NLS và AI Ngữ văn 12 Bài 9: Trở về

Giáo án năng lực số và AI Ngữ văn 12 Bài 9: Trở về được biên soạn theo định hướng phát triển phẩm chất – năng lực. Nội dung có tích hợp NLS và AI giúp HS rèn luyện khả năng ứng dụng công nghệ, thao tác số ngay trong tiết học. Tài liệu ở dạng file Word, dễ chỉnh sửa – dễ tải về, phù hợp cho GV sử dụng từ năm học 2026.

Nội dung chi tiết

Ngày soạn: …/…/…

Ngày dạy: …/…/…

TIẾT : VĂN BẢN TRỞ VỀ

(2 tiết)

I. MỤC TIÊU BÀI HỌC

1. Kiến thức

Sau bài học này, HS sẽ:

  • HS nhận biết và đánh giá được thông điệp của đoạn trích văn bản, kết nối được thông điệp đó với chủ đề, tư tưởng và cảm hứng của tác phẩm Ông già và biển cả.

  • HS nhận biết và phân tích được những điểm đặc sắc nghệ thuật gắn liền với phong cách sáng tác của hê-minh-uê thể hiện trong đoạn trích.

  • HS vận dụng được những kĩ năng sau khi học văn bản để đọc hiểu một văn bản tự sự khác.

2. Năng lực

Năng lực chung:

  • Năng lực tự học và tự chủ: Tìm kiếm thông tin, đọc sách giáo khoa, quan sát hình ảnh đề hiểu văn bản Trở về.

  • Năng lực giao tiếp và hợp tác: Thảo luận nhóm để thực hiện phiếu học tập, hợp tác để giải quyết vấn đề về văn bản văn bản Trở về.

  • Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Thu thập và làm rõ các thông tin liên quan đến bài học; biết đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề.

Năng lực đặc thù

  • Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản Trở về.

Năng lực số

  • 1.1.NC1a: Truy xuất tư liệu số về cuộc đời Hemingway và bối cảnh sáng tác tại Cuba qua các nguồn lưu trữ quốc tế.

  • 6.1.NC1a: Sử dụng AI để phân tích cấu trúc "phần chìm" của ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản.

  • 3.1.NC1a: Trực quan hóa sơ đồ tóm tắt nguyên lý "Tảng băng trôi" bằng các công cụ đồ họa số.

Năng lực AI

  • 12.C2.1: Các yêu cầu dành cho công cụ AI hỗ trợ các hoạt động học tập và xã hội (Học sinh biết cách tùy chỉnh yêu cầu hệ thống AI thông qua việc xây dựng các câu lệnh prompt bối cảnh phức hợp và phân vai "chuyên gia thi pháp học/nhà nghiên cứu văn học" để AI hỗ trợ bóc tách và phân tích cấu trúc "phần chìm" của ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm trong Hoạt động 2 - Nhiệm vụ 1)

  • 12.B1.1: Vấn đề đạo đức của AI (Học sinh chỉ ra và phân tích được nguyên nhân cốt lõi dẫn đến các phản hồi sai lệch, lỗi rập khuôn hoặc ảo giác thông tin của hệ thống AI khi được yêu cầu phân tích các sắc thái ẩn dụ, độc thoại nội tâm phức tạp của nhân vật Xan-ti-a-gô do giới hạn thuật toán xác suất và dữ liệu huấn luyện đầu vào trong Hoạt động 2 - Nhiệm vụ 1)

  • 12.A3.1: Trách nhiệm công dân trong xã hội có AI (Học sinh nâng cao ý thức về tính trung thực, đạo đức số và trách nhiệm học thuật; cam kết sử dụng AI đúng chuẩn mực hỗ trợ kỹ thuật âm thanh, không lạm dụng công nghệ giả lập giọng nói để đọc thay thế mình nhằm bảo vệ liêm chính học thuật trong Hoạt động 4 - Vận dụng)

3. Phẩm chất

  • Có lòng can đảm, tự tin dám nghĩ dám làm, tôn trọng bản thân và tôn trọng sự khác biệt.

II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU

1. Đối với giáo viên

- KHBD

  • SGK, SGV Ngữ văn 12;

  • Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi;

  • Tranh ảnh về tác giả, tác phẩm;

  • Bảng phân công nhiệm vụ cho HS hoạt động trên lớp;

  • Bảng giao nhiệm vụ học tập cho HS ở nhà;

  • Máy tính, máy chiếu.

  • Video AI được tạo bằng các công cụ AI để khởi động bài học.

  • Công cụ AI hỗ trợ: ChatGPT, Copilot.

2. Đối với HS

  • SGK, SBT Ngữ văn 12.

  • Sách tham khảo, tư liệu sưu tầm liên quan đến bài học…

  • Bảng giao nhiệm vụ học tập đã chuẩn bị ở nhà.

  • Thiết bị số: Máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh (nếu điều kiện cho phép) có kết nối Internet.

III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

1. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG

a. Mục tiêu: Tạo hứng thú cho HS, thu hút HS sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập của mình.

b. Nội dung: GV đặt câu hỏi để HS trả lời về hành trình tưởng như vượt quá sức của bản thân mà em đã từng trải qua hoặc đã từng biết.

c. Sản phẩm: Câu trả lời của HS.

d. Tổ chức thực hiện:

Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập

- GV đặt câu hỏi cho HS: Hãy chia sẻ về một hành trình tưởng như vượt quá sức của bản thân mà em đã từng trải qua hoặc đã từng biết.

- GV tiếp tục chiếu cho HS xem video AI được thiết kế riêng cho bài học và yêu cầu HS trả lời câu hỏi xuất hiện trong video đó.

Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ học tập

- HS liên hệ thực tế, dựa vào hiểu biết của bản thân cùng trả lời câu hỏi.

- GV quan sát, hỗ trợ HS thực hiện (nếu cần thiết).

Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động, thảo luận

- GV mời đại diện 1-2 HS trả lời câu hỏi.

- GV yêu cầu các HS khác lắng nghe, có thể phản biện nếu thấy không đúng.

Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập

- GV nhận xét, đánh giá, chốt kiến thức: HS tự do phát biểu cảm nhận của mình.

- GV dẫn dắt vào bài học mới: Ơ-nít Hê-minh-uê là một trong những tác giả nổi tiếng có ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn học thế giới. Chắc hẳn trong số chúng ta đã từng ít nhất một lần biết đến tác phẩm của ông và trong bài học hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu văn bản Trở về của ông.

[2.1.NC1a: HS thực hiện các tương tác cơ bản với học liệu số (xem video, trả lời câu hỏi trên môi trường số)].

2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

Hoạt động 1: Đọc văn bản

a. Mục tiêu: Nắm được những thông tin về tác giả Ơ-nít Hê-minh-uê và đọc văn bản Trở về.

b. Nội dung: HS sử dụng SGK, chắt lọc kiến thức để tiến hành trả lời câu hỏi liên quan đến tác giả Ơ-nít Hê-minh-uê và văn bản Trở về.

c. Sản phẩm học tập: Câu trả lời của HS và kiến thức HS tiếp thu được liên quan đến tác giả Ơ-nít Hê-minh-uê và văn bản Trở về.

d. Tổ chức thực hiện:

HOẠT ĐỘNG CỦA GV- HS

DỰ KIẾN SẢN PHẨM

NLS/AI

Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu tác giả Ơ-nít Hê-minh-uê

Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập.

- GV cho HS phân vai thực hiện chuyên mục “Chân dung cuộc sống”.

TIẾT    : VĂN BẢN TRỞ VỀ

Tìm hiểu về cuộc đời cũng như sự nghiệp của nhà văn Ơ-nít Hê-minh-uê:

+ Thân thế, sự nghiệp.

+ Tác phẩm chính.

+ Trình bày những hiểu biết của bạn về tác phẩm Ông già và biển cả cùng đoạn trích Trở về?

- GV yêu cầu HS sử dụng smartphone/ máy tính cá nhân truy cập các trang web bảo tàng số hoặc thư viện trực tuyến để tìm kiếm hình ảnh, clip về cuộc sống của Hemingway tại Cojimar (Cuba).

- GV hướng dẫn HS sử dụng trợ lý AI với câu lệnh: "Trình bày tóm tắt nội dung tiểu thuyết 'Ông già và biển cả' và xác định vị trí của đoạn trích 'Trở về' trong toàn bộ tác phẩm".

- HS tiếp nhận nhiệm vụ

Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập.

- HS chia vai đóng cặp để thực hiện phỏng vấn.

Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận.

- GV mời các nhóm HS phát biểu, yêu cầu cả lớp nhận xét, bổ sung.

Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập.

- GV nhận xét, đánh giá, chốt kiến thức.

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

a. Tiểu sử

TIẾT    : VĂN BẢN TRỞ VỀ

- Tên: Ơ-lít Hê-minh-uê

- Năm sinh: 1899 – 1961.

- Là nhà văn, nhà báo nổi tiếng của nền văn học hiện đại Mỹ. Cuộc đời và sự nghiệp của ông được coi là một điển hình cho “thế hệ lạc lối” – danh xưng chỉ lớp người trưởng thành trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và phải gánh chịu những di hại tinh thần nặng nề của sự kiện này.

- Ông cũng là người đưa ra “nguyên lí tảng băng trôi” trong sáng tác văn học, theo đó những ngôn từ nhà văn viết ra chỉ là phần nổi của tảng băng, còn ý nghĩa thực sự của tác phẩm nằm ở phần chìm của nó.

- Năm 1954, ông được trao giai Nô-ben Văn học.

b. Tác phẩm chính

- Các tác phẩm tiêu biểu: Mặt trời vẫn mọc (1926), Giã từ vũ khí (1929), Chuông nguyện hồn ai (1940), Ông già và biển cả (1952).

2. Tác phẩm “Ông già và biển cả”

- Thể loại: Tiểu thuyết

- Tiểu thuyết ngắn đã giành giải thưởng Pu-lít-dơ cho tác phẩm hư cấu năm 1953.

- Tác phẩm kể câu chuyện về một ngư dân già người Cu Ba trên Xan-ti-a-gô. Không bắt được con cá nào trong suốt tám mươi tư ngày, ông bị mọi người coi là kẻ mang vận rủi. Ma-nô-lin, cậu bé học việc và người bạn nhỏ của Xan-ti-a-go, cũng bị cha mẹ buộc phải rời xa ông để làm việc trên một con thuyền khác. Tuy nhiên, Ma-nô-lin vẫn thường xuyên tới thăm và mang đồ ăn thức uống cho ông. Họ trò chuyện về việc đánh bắt cá, về bóng chày và về những con sư tử trên bãi biển mà Xan-ti-a-gô đã nhìn thấy ở Châu Phi khi ông bằng tuổi cậu bé bây giờ.

Ngày thứ tám mươi năm, Xan-ti-a-gô quyết định dong thuyền đi tới vùng biển xa phía bắc với niềm tin rằng vận may sẽ trở lại với mình. Giữa biển khơi bao la, ông vừa làm việc vừa nói chuyện với biển cả với các sinh vật xung quanh, và với chính mình. Đôi khi ông ước có Ma-nô-lin ở bên để chia sẻ công việc và những trải nghiệm. Đến trưa, một con cá đã mắc câu mà Xan-ti-a-gô tin là con cá kiếm khổng lồ, nhưng ông không thể kéo nó vào bờ được. Suốt hai ngày đêm, ông và con cá giằng co vật lộn với nhau. Xan-ti-a-gô cố gắng giữ con cá không tuột khỏi dây trong khi nó kéo chiếc thuyền càng lúc càng xa đất liền. Trong cuộc chiến đó, ông cảm thấy ngưỡng mộ sức mạnh và sự kiên cường của con cá kiếm, đồng cảm với nó như một người bạn, một người anh em, thậm chí như thể nó và mình đã hòa làm một. Mặt khác, mặc dù thiếu ngủ, bị thương ở tay và vô cùng đau đớn nhưng ông quyết không bỏ cuộc.

Sang ngày thứ ba con cá kiếm bơi chậm lại quanh chiếc thuyền. Xan-ti-a-gô, lúc này gần như đã kiệt sức, kéo con cá lại gần thuyền và đâm chết nó bằng cây lao. Ông quay thuyền trở về và nghĩa đến những gì có thể làm với con cá kiếm khổng lồ đó. Con cá dài hơn cả chiếc thuyền nên Xan-to-a-gô phải buộc nó ở mạn thuyền. Trong tình cảnh đó, có những lúc ông nghĩ không biết mình đang đưa con cá trở về hay con cá đang đưa mình trở về.

Máu từ vết đâm trên thân con cá kiếm đã thu hút lũ cá mập. Một con cá mập khổng lồ lao vào con cá kiếm và ngoạm đứt một miếng thịt lớn. Xan-ti-a-gô dùng cây lao đâm chết con cá mập, nhưng cũng vì vậy mà đánh mất cây lao. Những con cáo mập khác tiếp tục kéo đến. Xan-ti-a-gô buộc con dao vào mái chèo làm thành một cây lao tự tạo để chiến đấu với chúng, rồi khi dao gãy, ông chống trả bằng cây gậy. Tuy nhiên, lũ cá mập quá đông đã rỉa hết thịt con cá kiếm. Xan-ti-a-gô rủa lũ cá mập, cảm thấy hối tiếc cho cả mình lẫn con cá kiếm và tự trách đã đưa thuyền đi quá xa.

Xan-ti-a-gô trở về đất liền trong đêm tối, dùng hết sức lực còn lại để đưa chiếc thuyền cùng với cái đầu và bộ xương khổng lồ của con cá kiếm vào bờ. Sau đó, ông về lán và lăn ra ngủ.

- Trở về là đoạn trích nằm ở phần cuối của tiểu thuyết Ông già và biển cả.

1.1.NC1a: HS truy xuất tư liệu số về cuộc đời Hemingway và bối cảnh sáng tác tại Cuba qua các nguồn lưu trữ quốc tế.

6.1.NC1a: HS sử dụng được công cụ AI để tìm hiểu khái quát về tiểu thuyết “Ông già và biển cả” và đoạn trích ‘Trở về”.

Hoạt động 2: Khám phá văn bản

a. Mục tiêu: Chỉ ra và đánh giá được thông điệp của văn bản, kết nối được thông điệp đó với chủ đề, tư tưởng và cảm hứng của tác phẩm Ông già và biển cả.

b. Nội dung: Sử dụng SGK chắt lọc kiến thức để tiến hành trả lời các câu hỏi liên quan đến văn bản Trở về.

c. Sản phẩm học tập: Câu trả lời của HS và kiến thức HS tiếp thu được liên quan đến văn bản Trở về.

d. Tổ chức thực hiện